thư mục

Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014

Giấc mơ du học, sau Harvard rồi... đi đâu?


du học, Harvard, Mỹ, Phan Việt, học bổng, xuất ngoại



Giấc mơ du học, sau Harvard rồi... đi đâu?
 Nhiều người cho con đi học không phải vì nền giáo dục ở Tây mà là vì cái sẽ xảy ra tại Việt Nam sau khi một đứa trẻ có bằng Tây trở về, ví dụ “có bằng tây về Việt Nam sẽ tốt”.
LTS: Nếu những năm 1970s, 1980s, các thầy bói xem chỉ tay rồi phán "anh, cô có số xuất ngoại" thì người được bói khấp khởi hoặc là trong tương lai sẽ được đi xuất khẩu lao động; hoặc đi học ở Liên Xô và Đông Âu. Trước đó, rất nhiều lớp trí thức Việt được đào tạo bài bản bên Pháp. Hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa, du học sinh Việt đã có mặt trên hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới, nói đủ các ngôn ngữ, du nhập về nước các nền văn hóa, kinh tế khác nhau.
Việc có một hay nhiều đứa con đang du học ở những nước phát triển được coi là tiêu chí thành đạt của các gia đình Việt Nam hiện tại. Xu hướng đang tăng này bắt đầu từ những nguyên nhân nào, sẽ tác động ra sao đến vào sự đổi thay xã hội và nền giáo dục Việt nói chung.
Tuần Việt Nam mở chuyên đề "Trao đổi, dịch chuyển và 'tị nạn' giáo dục" với sự tham gia của các chuyên gia, cựu du học sinh, những người có nhiều trải nghiệm giáo dục của Việt Nam và quốc tế.
Bài 1: Giấc mơ du học, sau Havard rồi... đi đâu?
Nhà văn Phan Việt tên thật là Nguyễn Ngọc Hường. Chị là tác giả của các tác phẩm - Phù phiếm truyện (2005); Tiếng người (2008); Nước Mỹ, nước Mỹ (2009); Một mình ở châu Âu (2013) và Xuyên Mỹ (2014).Chị cũng là đồng sáng lập tủ sách Cánh Cửa Mở Rộng.
Phan Việt tốt nghiệp Đại học Ngoại thương năm 2000, sau đó sang Mỹ học Thạc sĩ Báo chí và Truyền thông, học tiếp chương trình Thạc sĩ thứ hai và lấy bằng Tiến sĩ công tác xã hội tại ĐH Chicago, Mỹ, hiện là Phó giáo sư, giảng dạy tại đại học South Carolina (Mỹ).
Trở về Việt Nam vào mùa hè này, ngoài các công việc liên quan đến sách, Phan Việt đưa một đoàn sinh viên và giáo sư Mỹ sang học về công tác xã hội tại Việt Nam, kết nối để Đại học South Carolina ký kết các văn bản hợp tác với ba trường Đại học lớn tại Việt Nam; tổ chức một hội thảo quốc tế về công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần; và vẫn đều đặn tới các bệnh viện tâm thần để thực hiện một nghiên cứu.
Cuộc trò chuyện giữa PV Tuần Việt Nam và TS Phan Việt diễn ra tại một ngôi chùa ở ngoại thành Hà Nội, nơi chị đang sống để làm nghiên cứu và cũng tranh thủ dạy tiếng Anh cho chư tăng và người đến chùa.

Hãy cho họ thấy bạn khác biệt
Gần đây, báo chí Việt Nam thường phát sốt với những tin tức kiểu như bạn A được vào Harvard, bạn B được vào Stanford. Nhưng mọi câu chuyện luôn dừng lại ở việc vào được Harvard như cái đích tối cao, rất ít khi thấy thông tin về việc những người trẻ đó sau khi tốt nghiệp Harvard họ đã đi đâu, làm gì? Cá nhân chị có thể chia sẻ gì về mục đích quyết định đi Mỹ du học của chị hơn chục năm về trước? Đi học ở nước ngoài khi đó có phải là một trào lưu không?
Tôi đi Mỹ ngay sau khi tốt nghiệp trường Ngoại thương. Lúc đó chuyện đi du học ở Mỹ  cũng hiếm mà người Việt chủ yếu đi học ở Úc, Châu Âu, hoặc các nước Châu Á. Thường thì học bổng hay dành cho các bạn đoạt giải Olympic, giải quốc gia, quốc tế, hoặc là đã làm việc một thời gian để thành lãnh đạo trẻ.
Tôi không thuộc những diện này, cũng không có gì nổi bật về thành tích, nhà lại cũng không có điều kiện, nhưng tôi biết là tôi rất muốn đi du học. Đọc các tài liệu du học thì tôi thấy các trường ở Mỹ tuyển sinh viên khác các nước khác.
Có vẻ họ nhìn giáo dục như một vụ đầu tư kinh doanh cho nên họ sẵn sàng mạo hiểm nhiều hơn các nước khác. Bỏ ra mấy trăm ngàn USD cho một sinh viên là một sự đầu tư mạo hiểm mà. Nếu bạn chứng minh được với họ là bạn có đam mê và có khả năng trở thành một người tạo ra sản phẩm hoặc  giá trị riêng biệt cho xã hội thì họ sẽ chấp nhận đầu tư vào bạn.
Mất khoảng hơn một năm làm hồ sơ thì tôi được nhận đi học thạc sỹ về truyền thông.
Ấn tượng khi so sánh hai hệ thống giáo dục Việt – Mỹ của chị thế nào?
Ấn tượng đầu tiên là học ở Mỹ không có cảm giác khổ. Ở Việt Nam thì việc học là trung tâm cuộc sống của một đứa trẻ và gia đình đứa trẻ, từ lớp một đến hết đại học, rất cực nhọc.Tôi vẫn còn nhớ cảm giác của ba năm cấp ba; nói chung là triền miên học, triền miên luyện thi, bắt đầu từ lớp 10.
Sang Mỹ học 10 năm, tôi chưa bao giờ gặp lại cái gì gần gần như vậy.Vấn đề không phải là ở chuyện tần số lớp học đâu. Cái chính là ở Việt Nam, tôi học vì một sự sợ hãi vô mình là mình phải vào trường tốt, cụ thể là trường Ngoại thương. Ở Mỹ thì tôi học vì mình chọn; mình có thể thành thực nói là “tôi thích học ngành này lắm”.
Thực sự là tôi học 2 bằng thạc sỹ, một bằng tiến sỹ ở Mỹ nhưng tôi không thấy khổ và có cảm giác sợ như lúc học ở Việt Nam.
Còn khác thế nào: như tôi nói, đã học 10 năm, rồi đi dạy 4 năm ở Mỹ thì tôi thấy người Mỹ coi giáo dục như là một ngành công nghiệp sản sinh tri thức và nhân lực nên cách học và dạy ở Mỹ thực dụng lắm. Họ hướng thẳng vào những gì có thể khiến sinh viên ra trường là trở thành người lao động giỏi, thành người tạo ra các giá trị gia tăng liên tục. Họ đo kết quả mỗi môn học cũng như toàn bộ chương trình rất rõ ràng, dựa trên thay đổi về kiến thức, hành vi, và giá trị sống của sinh viên.
Ở cốt lõi, người Mỹ không quan trọng việc dạy học sinh nghĩ thế này làđúng, thế kia là sai; cũng không dạy sinh viên nên nghĩ về cái này, cái kia, mà mà họ dạy học sinh phương pháp nghĩ như thế nào. Còn nội dung cụ thể của suy nghĩ thì họ cho sinh viên được một sự tự do khá lớn. Lúc tôi là sinh viên và bây giờ là giáo viên, lớp học bên đó thường rất ít hành vi giảng, chủ yếu là thảo luận, tranh luận, thử nghiệm, trình diễn, xem, nghe, quan sát, tương tác thực sự…
Cũng vì có quan điểm coi giáo dục là một ngành công nghiệp nên giáo viên tuy được xã hội Mỹ coi trọng một cách tương đối nhưng trước hết là người làm công ăn lương được xã hội trả tiền để làm việc, thế thôi. Họ không nghiễm nhiên được hưởng bất cứ sự tôn kính nào cả; họ cũng phải bị đánh giá chất lượng công việc, được trả lương dựa theo cơ chế thị trường. Quan hệ giữa sinh viên và giáo viên rất bình đẳng. Các trường thì có sự tự chủ rất lớn, gần như hoàn toàn, về chương trình dạy cũng như về tài chính; cho nên mọi thứ sẽ lấy chất lượng đo lường được làm tiêu chí.

Học Tây rồi về... làm gì?
Có phải đó là nguyên nhân khiến nhiều gia đình Việt Nam tìm mọi cách đưa con đi “tị nạn giáo dục”, theo cách nói phổ biến hiện nay, cho dù đắt đỏ, dù phải hy sinh nhiều thứ?
Cũng không hẳn đâu. Nhiều người cho con đi học không phải vì nền giáo dục ở Tây mà là vì cái sẽ xảy ra tại Việt Nam sau khi một đứa trẻ có bằng Tây trở về, ví dụ “có bằng tây về Việt Nam sẽ tốt”.
Cái họ nghĩ đến khi gửi con đi Tây là Việt Nam chứ không phải Tây. Tính toán như vậy cũng không có gì sai, nhưng tôi thấy là họ thường tính toán dựa trên những nhận định về Việt Nam hiện tại chứ không phải dựa trên nhận định về một Việt Nam có-thể-là hay một Việt Nam với những giá trị mới mà con cái họ chính là người góp phần kiến tạo, thậm chí là người khai phá, mở đường.
Không nhiều người, kể cả phụ huynh lẫn sinh viên, nghĩ đến những câu hỏi mấu chốt này: Tôi muốn gì, tôi muốn trở thành ai, tôi muốn di sản của mình là gì, để làm được điều đó thì con đường tối ưu cho tôi là gì? Tôi có cần phải đi Tây mới làm được điều đó hay có con đường khác tốt hơn? Nếu tôi đi Tây thì trường nào, học với ai, sẽ cho tôi kết quả tối ưu?
Tôi định sẽ đi học như một sự phản ứng với những ấu trĩ tôi thấy ở Việt Nam và tôi học để có thể tận dụng sự ấu trĩ đó hay là tôi muốn học vì tôi yêu tri thức, tôi muốn biết sự thật về thế giới, vì tôi muốn thay đổi cái tôi đang thấy.
Tôi lấy ví dụ như gần đây, báo chí Việt Nam thường phát sốt với những tin tức kiểu như bạn A được vào Harvard, bạn B được vào Stanford. Các bài viết thường hay tập trung kể xem A hay B và gia đình bạn đã vất vả và quyết tâm thế nào để vào được Harvard nhưng mọi câu chuyện luôn dừng lại ở việc vào được Harvard như cái đích tối cao.
Tôi thì nghĩ vấn đề không phải là vào được Harvard; vấn đề nằm ở chỗ bạn vào Harvard để làm gì, bạn có biết vì sao bạn muốn vào đó, chỗ đó có phải chỗ tối ưu để bạn làm được điều bạn muốn làm, trở thành người bạn muốn trở thành hay không?
Sau 'du học thoát nghèo' là 'du học thoát giàu'?
Có phải "cứ Mỹ là tốt"?
Như ở phần trao đổi trước, chị đã nói về động cơ dẫn đến trào lưu “đua” gửi con sang các nước tiên tiến để đi học.  Nhưng điều đáng quan tâm là  các du học sinh đó rồi sẽ làm được gì sau khi được thụ hưởng nền giáo dục tiên tiến?
Tâm lý mong muốn con em đi du học để trở thành những công dân quốc tế, đáp ứng được thị trường lao động toàn cầu... là rất thực tế và xác đáng. Nếu xác định mình đi học để có thể cạnh tranh đàng hoàng trên thị trường quốc tế thì quá tốt.
Nhưng như tôi nói, vì nhiều người Việt đi học với một khởi đầu không rõ ràng như trên cho nên cái mà họ đạt được cũng thường mang yếu tố tình cờ hoặc thụ động. Ở các nước khác thì tôi không rõ nhưng ở Mỹ, số người đi học rồi ở lại đi làm được theo mong muốn có ý thức của mình một cách đàng hoàng không nhiều đâu. Đa phần cũng là xoay sở một công việc, rồi cứ làm công ăn lương. Mình chỉn chu, nghiêm túc thì rồi cũng có những thành công nhất định.
Từ Việt Nam nhìn ra thì nhiều khi xã hội hay có một số những suy nghĩ không chính xác về người đang học và sống ở nước ngoài. Ví dụ đánh đồng mức độ uy tín và bằng cấp của các trường nghiên cứu hạng một (R1) với các trường kiểu như cao đẳng cộng đồng.
Hiện bây giờ, tôi vẫn nhìn thấy nhiều trường chất lượng không rõ ràng của Mỹ đến Việt Nam quảng cáo phóng đại về bản thân, khiến học sinh và phụ huynh nhầm lẫn "cứ Mỹ là tốt". Bản thân những người ở nước ngoài về cũng biết tâm lý này của xã hội nên cũng tận dụng nó. Kết quả là việc sính ngoại càng trầm trọng.

TS Phan Việt (thứ 5 từ trái sang) trong lễ ký kết với trường Đại học Quốc gia. Ảnh nhân vật cung cấp
Vậy dựa trên nền tảng là sản phẩm, kết quả giáo dục để đáp ứng với đòi hỏi của thị trường lao động, thì  theo chị, đâu là sức hút của giá trị Mỹ?
Tôi nghĩ cái gốc của vấn đề là nền giáo dục ở Mỹ gắn kết chặt với thị trường lao động và là sự triển khai của một hệ thống giá trị Mỹ trong đó con người được đánh giá rành mạch ở chất lượng công việc của anh, tài năng của anh. Trên mặt bằng chung, ở Mỹ ít có chỗ cho sự chàng màng.
Người Mỹ trọng lương tâm công việc lắm - cái này có nguồn gốc từ cái gọi là Protestant ethics, tức là cái đạo đức Tin Lành. Anh muốn xấu xa bê bết ở đâu thì kệ nhưng trong công việc, nếu anh đã được trả lương để làm thì anh phải làm tử tế, đấy là chuyện nghiễm nhiên, không bàn cãi.
Ở Việt Nam, giáo dục tồn tại độc lập như một cỗ máy tự vận hành vì mục đích khoa cử. Còn gắn kết giữa nó và thị trường lao động rất rời rạc. Gắn kết giữa nó với hệ thống giá trị hiện tại của Việt Nam lại còn rời rạc hơn - rời rạc hơn Mỹ và rời rạc hơn so với xã hội Việt Nam trước đây.
Tôi nói ví dụ chuyện hệ thống giá trị thế này. Nhiều bạn trẻ Việt Nam thường ao ước mình học ít thôi mà điểm vẫn cao, làm nhàn thôi mà lương vẫn cao, làm ít thôi nhưng vẫn thăng tiến. Sinh viên của tôi ở Mỹ nhìn chung không ước như thế. Các em ấy ước được làm việc mình thích và được trả lương công bằng - và đây là cái công bằng chung cho tất cả mọi người chứ các em ấy không muốn mình may mắn hơn người khác, không muốn mình nhàn nhã hơn.
Đừng "bê một cụm Việt Nam sang Mỹ"
Vậy theo quan sát riêng của chị, những điều lớn nhất các sinh viên Việt Nam thu được từ nền giáo dục tiên tiến đó là gì? Giúp ích đến đâu trong phát triển công việc của bản thân họ cũng như đóng góp cho cộng đồng?
Vấn đề này phụ thuộc vào từng cá nhân cụ thể, không có đáp số chung. Họ tìm cái gì sẽ được cái đó.
Như tôi nói, cái mục đích khởi đầu rất quan trọng cho việc bạn đi đến đích nào, có đi đến đích hay không và mất bao lâu để đi đến. Tôi nghĩ là cái động cơ của bạn lúc khởi đầu phải rất trong sáng và trung thực. Nếu nó bắt đầu từ những tính toán căn cơ thì thường rồi cuối cùng cuộc đời bạn cũng sẽ liên tục là những bài toán đối đãi rất đau đầu. Thường là những bạn có mục tiêu rõ ràng cho việc học của mình, có sự độc lập và trong sáng từ trong nước thì các bạn đó có thể có những cuộc lột xác hoàn toàn khi ra nước ngoài.
Còn những bạn đi vì các tính toán khác thì tôi thấy là thường vẫn co cụm trong cộng đồng người Việt với nhau, chẳng khác gì bê một cụm Việt Nam sang Mỹ.
Thành tựu quan trọng nhất của các bạn đó có thể là tấm bằng vì ngay cả một vài nếp sống văn minh và tự lập mà các bạn ấy học được ở Mỹ thì chỉ về nước một thời gian ngắn là mai một hết. Các bạn ấy có thể lại còn bị kẹt trong tình trạng trở lại Việt Nam thì thấy cái gì ở Việt Nam cũng tệ nên khó hòa nhập.
 Theo suy nghĩ của riêng tôi, du học sinh thường rơi vào hai nhóm đối tượng: hoặc rất giỏi và nhận được học bổng, hoặc con của gia đình khá giả đi du học tự túc. Cả hai nhóm đều có những điều kiện (để) thành công cao, được mong đợi tạo ra ảnh hưởng tích cực để phát triển cộng đồng. Nhưng không phải ai cũng có thể đạt được thành công khi trở về. Ngoài thái độ học tập mà chị vừa phân tích ở trên, nếu họ không thành công, thì đâu là những cản trở khác?
Nói như vậy cũng không được công bằng lắm. Chúng ta mở cửa từ năm 1986 nhưng thực ra số người đi học nước ngoài rồi trở về Việt Nam làm việc vẫn chỉ là muối bỏ bể trong một đất nước cần xây dựng quá nhiều thứ và có quán tính quá lớn từ quá khứ.
Thế hệ này bắt đầu nhìn ra rằng vấn đề ở Việt Nam là tri thức, là một hệ thống giá trị mới, còn kinh tế thì bây giờ cũng đã ổn rồi, xã hội mình không đến nỗi chết đói nữa.
Thế hệ du học trước tôi chủ yếu đi Nga và Đông Âu, trở về với một Việt Nam nghèo. Cái mà họ muốn thay đổi nhất là thoát nghèo. Và bây giờ bạn có thể thấy ảnh hưởng của họ ở nhiều lĩnh vực kinh doanh, bất kể bạn cho rằng ảnh hưởng đó là tốt hay xấu.
Đến thế hệ của tôi bắt đầu đi Mỹ, Anh, Úc... nhưng cũng chỉ bắt đầu thực sự từ 10 năm trở lại đây.
Thế hệ này bắt đầu nhìn ra rằng vấn đề ở Việt Nam là tri thức, là một hệ thống giá trị mới, còn kinh tế thì bây giờ cũng đã ổn rồi, xã hội mình không đến nỗi chết đói nữa.
Nhưng thay đổi các giá trị luôn khó và lâu; sáng tạo ra các giá trị mới càng khó hơn. Mình vừa phải có đủ tích lũy và tri thức để xây dựng nó, phát biểu được nó ra rành mạch, vừa phải sống chính những giá trị đó giữa một biển tác động của thế giới cũ.
Nhưng tôi thấy điều này đang manh nha xuất hiện như những đốm lửa nhỏ rồi.
Tôi lấy ví dụ là Viện Nghiên cứu Toán Cao Cấp mà anh Ngô Bảo Châu và các đồng nghiệp đang thực hiện. Tôi đến đó, thấy các khóa học đều đặn, rất nhiều người ở nước ngoài về dạy ở Viện vào mùa hè như anh Vũ Hà Văn, anh Hà Huy Tài, các anh chị ở Pháp, ở Nhật, vv...
Xã hội có thể cho việc này là nhỏ, nhưng cái họ đang làm có giá trị tích lũy rất tốt. Họ đang chứng minh một thứ và giúp thế hệ sau tin một thứ: cuộc sống vững vàng, tự tại nhờ vào tri thức là rất quan trọng cho con người đương đại. Hoặc tôi thấy những nỗ lực của anh Giáp Văn Dương với Giap School. Hay của nhóm tổ chức liên hoan phim hàng năm YyxineFF; những ca sỹ và người làm nghệ thuật độc lập; các công ty sách độc lập; các hội đọc sách, hội làm cha mẹ....
Rồi tôi gặp các nhóm bạn trẻ cùng nhau thành lập các tổ chức phi chính phủ làm về môi trường, về giáo dục kỹ năng sống, bình đẳng giới, vv... Có quyền tin là đang manh nha những lớp sóng mới trong lòng xã hội Việt Nam. Cái tinh thần của cơn sóng ấy và cái giá trị lõi xuyên suốt những cơn sóng ấy là giống nhau và tích cực.
Cản trở họ thì nhiều, tôi không cần nói ra chắc ai sống ở Việt Nam cũng biết. Cái mà họ cần làm nhất bây giờ chính là hợp tác với nhau.
Tôi thì nghĩ là điều đó thể nào cũng xảy ra; nó chỉ cần thêm thời gian và cần có những nhân tố kết nối. Bản thân mỗi người, mỗi nhóm vào lúc này đều đang tập trung xây dựng nội lực và tìm ra bộ mặt riêng của mình nên chuyện đứng một mình, manh mún là chuyện dễ hiểu.
Xin cảm ơn chị!


Thứ Ba, 8 tháng 7, 2014

"Thời khắc Munich" ở Đông Bắc Á

So sánh Đông Á với châu Âu thập niên 1930 thật chẳng có gì chung. Vậy, có phải chính quyền Obama quả thật đang nhân nhượng Trung Hoa một cách vô lối không?

Tôi đã ngưỡng mộ Thượng nghị sĩ James Webb bang Virginia từ cuối những năm 1980, khi tôi là một sĩ quan hải quân Mỹ mới được bổ nhiệm còn ông là Tổng Tham mưu trưởng Hải quân (secretary of the navy). Ngoài những thành tích đạt được trên cương vị người làm chính sách và nhà lập pháp, Webb còn là một cựu chiến binh đánh thủy của Mỹ ở Việt Nam, từng được tặng huy chương; một tiểu thuyết gia, sử gia đáng chú ý, và là con cháu của những người nhập cư Scotland-Ireland đã định cư và góp phần xây dựng nên miền nam nước Mỹ? Có lý do gì để tôi không thích ông? Vì vậy, khi ông phát biểu rằng Mỹ “đang tiến gần đến thời khắc Munich với Trung Hoa” trên biển Hoa Nam (tức Biển Đông – ND), ta rất nên xem xét lời ông một cách nghiêm túc.

Ông nói vậy ngang với việc nạp đạn vào súng. Nếu như có một “thời khắc Munich” đang thành hình, thì ai là nhân vật chính đây? Dường như Webb xếp Trung Hoa vào vai nước Đức quốc xã – một thế lực hung tàn, hám lợi, tìm cách tăng cường ảnh hưởng chính trị của nó và hy sinh quyền lợi của các nước nhỏ. Điều này làm cho Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trở thành bản sao của nhà độc tài Đức Adolf Hitler. Tổng thống Obama thì đóng vai Neville Chamberlain, ông thủ tướng Anh mà vào năm 1938 đã đem phần lớn lãnh thổ Czechslovakia ra đổi chác, những mong làm dịu cơn khát đất của Hitler. Chamberlain trở về nhà và được hoan nghênh ồn ã; ông ta tuyên bố là phương Tây đã đàm phán được “hòa bình trong thời đại của chúng ta”. Các nguyên thủ Anh và Pháp cũng tìm cách kéo dài thời gian, đề phòng trường hợp hòa bình tan vỡ. Bằng việc đẩy các nhu cầu của Hitler sang những lãnh thổ của người thiểu số Germain, họ đã có thêm thời gian để tái thiết lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới ở châu Âu. Các nước Đông Nam Á bây giờ là nước Czechoslovakia bất lực của ngày ấy. Họ không tài nào ngăn cản nổi việc các siêu cường đem lợi ích sống còn của họ ra mà đổi chác – thậm chí cuối cùng là trao đổi cả sự tồn tại của họ với tư cách quốc gia. Bảng phân vai của Webb có thể chẳng làm cho nhân vật nào trong vở kịch đang được trình diễn trên Biển Đông kia hài lòng.

“Munich” là cách gọi tắt của khái niệm “nhân nhượng vô nguyên tắc”, một khái niệm mà từ năm 1938 đã mang những hàm nghĩa nặng nề*. Tuy nhiên cần phải chỉ ra rằng nhân nhượng là sự trao đổi ngoại giao thường gặp trong tình hình bình thường. Các nước đều luôn luôn phải thỏa hiệp, họ cũng nên làm như thế. Liệu Munich – nỗi ô nhục của việc nhân nhượng những con thú ăn thịt người – có phải là một phép ẩn dụ thích đáng để chỉ cách hành xử của Mỹ trong những tranh chấp hàng hải làm đục ngầu nước Biển Đông?

Chúng ta hãy phân tích sự tương đồng để xây dựng một số thông số khi tìm hiểu về các sự kiện trên Biển Đông. Trước hết, Czechoslovakia là đối tượng thứ yếu, không mấy quan trọng, của những kẻ đã thỏa thuận nhân nhượng kia. Mối đe dọa đối với hòa bình, như lời Chamberlain, xuất phát từ “một cuộc cãi vã ở một nước xa xôi, giữa những người mà chúng ta chẳng hiểu gì”. Chiến đấu vì Czechoslovakia gần như là điều mà Anh và Pháp không thể tưởng tượng nổi*. Người Mỹ hiếm khi theo dõi tình hình chính trị Đông Nam Á, mặc dù khu vực ngã tư hàng hải này có tầm quan trọng rất lớn đối với mậu dịch toàn cầu và thương mại Mỹ. Các nhà lãnh đạo của Philippines khăng khăng cho rằng hiệp ước an ninh năm 1951 giữa Manila và Washington đã quy định cả những yêu sách chủ quyền trên Biển Đông. Liệu người Mỹ có chiến đấu để bảo vệ những yêu sách đó của Philippines không, hay là những cái đó chỉ là chuyện thứ yếu, cũng giống như chủ quyền của Czechoslovakia trong mắt các cường quốc phương Tây năm 1938?

Thứ hai, phái đoàn Anh-Pháp đã dâng đối tượng thứ yếu này (Czechoslovakia) cho con thú hung dữ đói đất (Đức Quốc xã) để đổi lấy hòa bình tạm thời. Trước đó Hitler đã gom đủ thành tích xâm lược. Vào năm 1936 chẳng hạn, quân đội Đức tái vũ trang vùng Rhineland. Bằng cách ấy, Berlin bắt đầu phá bỏ Hiệp ước Versailles – hiệp ước chấm dứt Thế chiến I và áp đặt nghĩa vụ bồi thường nặng nề lên nước Đức bại trận. Đầu năm 1938, Hitler gây áp lực với Áo, buộc Áo phải chấp nhận Anschluss (Liên minh Đức-Áo), tức liên minh trong một nước Đức đế quốc rộng lớn hơn. Khi đó, tại Munich, các nhà lãnh đạo Pháp và Anh đưa ra một loạt thỏa hiệp có tác dụng kích thích cơn thèm khát của con thú đói đất. Sau khi cho đi Sudetenland – một thành phố công nghiệp của Czechoslovakia, dân cư chủ yếu là người Đức, và là nơi có những rặng núi có thể bảo vệ nền cộng hòa khỏi bị tấn công – London và Paris đã làm tiêu tùng khả năng của Czech chống lại những đòi hỏi của Đức. Chẳng bao lâu sau đó, quân đội Đức chiếm được phần còn lại của Czechoslovakia.

Một cách khác để nhìn vào câu chuyện Biển Đông là thế này: Có phải Bắc Kinh đã lập được thành tích xâm lược rõ ràng tương tự, tiến đến bất kỳ thỏa thuận nào giữa Mỹ và Trung Quốc, bán rẻ chính phủ các nước Đông Nam Á thân thiện – một kết quả mà Washington lẽ ra phải thấy trước và tránh đi? Có thể lắm, nhưng cũng cần nhớ lại là, thậm chí ngay cả người kế nhiệm Chamberlain là Winston Churchill cũng đã rất hào phóng. Trong bài diễn văn ca tụng Chamberlain, Churchill cảnh cáo người nào có ý định phán xét một vụ việc như thỏa ước Munich “mà không tính đến hoàn cảnh ra đời của nó”. Ông ta nhận xét rằng các nhà lãnh đạo:

“Những người thiên về cảm tính thường hay tìm kiếm những giải pháp rành mạch dứt khoát để giải quyết những vấn đề phức tạp và tối tăm; những người sẵn sàng chiến đấu bất kỳ khi nào bị một thế lực ngoại quốc đe dọa; không phải bao giờ cũng đúng. Mặt khác, những người có xu hướng cúi đầu, nhẫn nại và kiên định tìm đến các thỏa hiệp hòa bình, thì không phải bao giờ cũng sai. Ngược lại, trong đa số trường hợp, họ có thể đúng, không chỉ đúng về mặt đạo đức mà còn đúng khi xét từ quan điểm thực tiễn… Biết bao nhiêu cuộc chiến tranh đã xảy ra vì những kẻ xúi giục bạo loạn!”.
Còn hơn thế nữa, trong suốt thời gian tại vị thủ tướng sau cuộc Thế chiến, Churchill vẫn tiếp tục cho rằng “đối thoại luôn tốt hơn chiến tranh”. Những lời ấy không thể là của một nhà lãnh đạo, người đã tự động bác bỏ mọi thỏa hiệp ngay cả với kẻ gây hấn tiềm năng như Hitler, Joseph Stalin hay Nikita Khrushev. Thu gọn tất cả những tranh cãi quốc tế vào một thỏa ước Munich có lẽ là sự đơn giản hóa thái quá – và sai lầm. Washington nên đối thoại, hay là đã đến lúc phải đứng lên đối đầu với Bắc Kinh, thay mặt cho chính phủ các nước Đông Nam Á thân thiện?

Thứ ba, các cường quốc phương Tây đã hy sinh lợi ích sống còn của bên thứ ba mà không hề hỏi ý kiến bên thứ ba đó. Hội nghị Munich không có sự tham dự của Tổng thống Czechoslovakia Edvard Beneš, dù nước của ông là nhân vật có quyền lợi chính yếu trong tranh chấp. Nhượng đất Sudetenland, hội nghị đã đồng thuận cao với việc phá hoại nền kinh tế, công nghiệp và tài nguyên của Czechoslovakia. Nếu bây giờ sự kiện thỏa ước Munich lặp lại, thì nghĩa là Mỹ và Trung Quốc sẽ quyết định tương lai của Biển Đông mà không hề hỏi xem chính phủ các nước Đông Nam Á có tán thành không. Nếu Obama đóng vai Chamberlain, ông ta sẽ lựa chọn một cách thiếu khôn ngoan: khuyến khích Bắc Kinh cố cưỡng ép các chính phủ châu Á phải tiếp tục nhượng bộ.

Lịch sử luôn lặp lại nhưng không hoàn toàn như cũ. Ở đây cũng vậy. Còn phải xem liệu Biển Đông – hệ thống đường biển rộng lớn nơi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và các nhân vật quyền cao chức trọng khác liên tục tuyên bố là “thuộc lợi ích quốc gia của Mỹ” – có bị Washington xếp vào hàng đối tượng thứ yếu không? Có một dấu hiệu cho thấy không phải như vậy: Chiến lược Biển 2007 của Mỹ – văn bản hướng dẫn Hải quân, Thủy quân Lục chiến và các hoạt động tuần duyên của Hoa Kỳ – trên thực tế đã nêu rõ rằng Mỹ sẽ tiếp tục là cường quốc hải quân hàng đầu ở Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương trong khoảng thời gian dự kiến được trong tương lai. Nếu Washington nghiêm túc với việc này, thì họ khó có thể xếp xó Đông Nam Á – khu vực nối giữa hai đại dương – vào vị trí “để đó tính sau”. Nói theo cách của Chamberlain, Biển Đông có lẽ là một dải đất ở xa, trong khi người Mỹ ít quan tâm tới các vấn đề (gần) của khu vực. Họ khó có thể thờ ơ đứng nhìn nó.

Liệu nhượng bộ có khiến Trung Quốc làm tới, có khiến quyền lực của họ phình to thêm trong khi hy sinh lợi ích của các nước láng giềng không? Đây là câu hỏi mấu chốt cho những người đang quan sát Trung Quốc. Giải quyết các vấn đề nảy sinh trong vùng biển kế cận Trung Quốc, gồm Biển Đông, Đài Loan, tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, và những chuyện tương tự, có thể làm Bắc Kinh hài lòng. Quả thật, những xung đột đó toàn rơi vào vùng biển ngoại vi lịch sử của Trung Quốc, nơi mà Trung Quốc cho là đường của họ. Nhưng cũng có thể sẽ có những món khai vị, như Đức Quốc xã đã từng khai vị bằng Rhineland, Áo, và Czechoslovakia. Trung Quốc sẽ no nê, thỏa mãn, hay sẽ tìm kiếm thêm các món ăn ngon miệng khác? Đây là điều còn chưa biết được

Và cuối cùng, khó mà tin rằng Washington sẽ gạt các chính phủ Đông Nam Á ra khỏi những cuộc bàn thảo về tương lai của họ. Quả thật, lập trường truyền thống của Mỹ đối với các yêu sách về chủ quyền trên biển là không theo lập trường nào cả. Nói chung Mỹ chỉ khẳng định rằng các bên cần giải quyết mâu thuẫn mà không sử dụng bạo lực, và bất kỳ bên nào chiến thắng trong tình trạng hỗn loạn về chủ quyền và quyền tài phán trên biển thì đều phải duy trì tự do hàng hải, thể hiện qua tự do trên vùng biển và vùng trời của khu vực. Chính quyền Obama, cũng giống như chính phủ của ông Chamberlain, có thể tham gia sâu hơn vào những vụ việc ở Đông Nam Á. Nhưng nếu họ tự chỉ định mình vào vị trí phát ngôn viên cho các chính phủ Đông Nam Á thì có lẽ sẽ hơi gượng gạo.

Phép so sánh lịch sử của Thượng nghị sĩ Webb có đúng hay không thì còn tùy mắt người nhìn. Thỏa ước Munich đã đem lại một cái chuẩn tuyệt vời để ta dựa vào đó mà theo dõi quan hệ Mỹ-Trung, bất kể sự tương đồng có hoàn hảo hay không. Hơn nữa việc ông Webb nổi tiếng là người nói thẳng, nói toạc tình hình khu vực, có thể sẽ giúp cho lợi ích của nước Mỹ và khu vực. Thẳng thắn với chính mình và với bè bạn mình về các vấn đề nguy hiểm là rất quan trọng và thậm chí còn quan trọng hơn thế nữa, khi ta có những kẻ cạnh tranh tiềm tàng như Trung Quốc.

                                                                                                       James R. Holmes Ngày 17/7/2011

James Holmes là phụ tá giáo sư chiến lược ở trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ. Quan điểm trong bài này là của riêng tác giả.

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Lý Quang Diệu bàn về Hoa Kỳ và Trung Quốc (trích đoạn)


..."Chỉ có kẻ ngu mới chống Hoa Kỳ"

Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ.

                            
                                  Ông Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore - Ảnh: ST


Mỹ nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số một

Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.

Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin , Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.

Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này

Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam . (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.

Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.

Ví dụ như Việt Nam , là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.

Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.

Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore . Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.

Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.

Cuộc cạnh tranh cuối cùng

Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa. Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.

Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.


Tại sao tôi lại tin vào thành công dài hạn của Hoa Kỳ

 Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.

Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.

Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore . Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.

Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.

Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.

Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York . Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.

Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.

Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York , bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.

Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năAng động.

Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

Chuyện hai cầu


   
Hà Nội kỳ nhân, kỳ sự - Ai thiết kế cầu Thê Húc ?

























ảnh bên là cầu Thê húc đang được dựng lại
Hai Cau The Huc
Trong ảnh bên có hai cái cầu đi vào đền Ngọc Sơn, người đi trên cầu ăn mặc có vẻ trang trọng


 Năm 1945, Nhật dựng chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ “Đế quốc Việt nam” này tồn tại rất ngắn ở Huế nhưng đã kịp bổ nhiệm cho Hà Nội thị trưởng đầu tiên của mình: ông Đốc Lý Trần Văn Lai. Ông bác sỹ này là người đã quốc ngữ hóa toàn bộ văn bản hành chính của thành phố Hà Nội. Trước đó ngôn ngữ chính thức của công quyền là tiếng Pháp.  Ông cũng đặt lại tên danh nhân Việt (rất nhiều danh tướng) cho các con đường mang tên Pháp, bỏ tên Pháp lấy lại tên cũ cho khu phố cổ. Nhân tiện, ông cũng cho giật nốt mấy cái tượng, trong đó có tượng Bà Đầm Xòe (Lady Liberty) ở Cửa Nam và tượng Paul Bert (nay là chỗ tượng Lý Thái Tổ). Lúc này Hà Nội chưa có tượng Lenin.
Đến khi Pháp chọn giải pháp Bảo Đại và dựng Quốc gia Việt Nam (1949), thì chính phủ mới này bổ nhiệm ông thị trưởng thứ hai của Hà Nội (1950): một ông nhà giàu ăn mặc rất đẹp, gốc Hoa, tên là Thẩm Hoàng Tín. 

Tết năm 1952 cầu Thê Húc bị gãy. Để có thiết kế đẹp thị trưởng Thẩm Hoàng Tín tổ chức cuộc thi thiết kế mẫu và trong hơn ba chục mẫu của các kiến trúc sư cả Pháp lẫn Việt tham gia thì thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm (1908-1999) được lựa chọn. Vẫn giữ lại dáng cong cầu vồng xưa nhưng Nguyễn Ngọc Diệm thiết kế cong hơn để cầu khỏe hơn, đồng thời làm cầu nổi hơn. Nguyễn Ngọc Diệm giữ nguyên 16 hàng cọc tròn nhưng các đầu trụ được vuốt nhọn như gợi nhớ lại chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng. Dầm ngang và dầm dọc của Thê Húc đúc bằng bê tông để kéo dài tuổi thọ, tuy nhiên mặt và thành cầu, ông thiết kế bằng gỗ. Trong quá trình xây lại cầu, họ dựng cầu tạm bên cạnh. Ảnh chụp có hai cây cầu phía trên, có lẽ là ảnh hôm khai trương cầu Thê Húc mới: vẫn còn cầu tạm, và khách đi trên cầu ăn mặc rất đẹp. Năm 1952 đang là chiến tranh Pháp Việt, nên sự kiện này hẳn là rất được gây chú ý của cư dân Hà Nội.

Sau 1954 cả hai ông thị trưởng Trần Văn Lai và Thẩm Hoàng Tín đều không di cư vào Nam mà ở lại Hà Nội. Trần Văn Lai sau làm thứ trưởng, làm phó chủ tịch thành phố. Con của ông Thẩm Hoàng Tín có người ở Pháp, nên sau này ông đi Pháp chữa bệnh (1979), ở lại Pháp với con, mất tại Pháp. Con gái ông Thẩm Hoàng Tín là vợ của giáo sư sử học Lê Thành Khôi, và là mẹ của ngôi sao nhạc jazz Nguyên Lê. Kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm cũng ở lại và có thêm một số công trình như cổng công viên Thống Nhất (cổng đường Nam Bộ, nay là Lê Duẩn), cầu trong công viên, khu tập thể (xưa là tiểu khu) Nguyễn Công Trứ.



***

Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

Học và thực học bắt đầu từ đâu?

Học với mục đích và khát vọng gì? Câu hỏi này có lẽ chưa bao giờ lớp người đi học tìm câu trả lời sát sao để mà có được câu trả lời thỏa đáng. Bởi sự trọng quan và trọng bằng cấp vẫn là mục đích cao nhất của phần đa người học, và nguyên do sâu xa nhất của sự trọng đó cũng chỉ là mong có được một chỗ ấm thân bằng mọi giá, chứ không phải đúng nghĩa của từ trọng.

Xưa, thời học từ chương khoa cử thì chỗ ấm thân là một chức quan nho nhỏ trong triều. Nay, với số đông vẫn là chức quan nho nhỏ “trong triều”, một suất biên chế lương ít bổng lộc nhiều hay một cái nghề đang “hot”. Trong khi đó, sự học đích thực là nuôi dưỡng sáng tạo lẫn khát vọng dân tộc, và xa hơn nữa là đóng góp cho văn minh nhân loại.
Tuy nhiên, những chỉ dấu tích cực đang có chiều hướng tăng khi số người dám dấn thân theo đuổi đam mê khoa học, hay dấn thân vào chốn thương trường. Nhưng ngay cả trong số này, mục đích của việc học cũng chỉ dừng lại ở cái mức có một mảnh bằng đỏ như một sự đảm bảo, một tờ giấy thông hành, có được mấy chân tài có thái độ học với khát vọng cống hiến khi họ bắt đầu việc học, học bằng tư duy và học với trách nhiệm làm người? Nói đến đây, chợt nhớ cái slogan của IPL (chương trình Hạt giống Lãnh đạo Doanh Nghiệp) “Nhân tài - Thực học – Sánh vai”, một ngôi trường không cấp bằng như một tuyên ngôn học không vì bằng cấp mà vì đẳng cấp. Vậy đẳng cấp mà dân IPL nói đến là gì? Liệu họ đã chạm tới khát vọng của việc học? Tôi tin là có, trong cách họ truyền lửa về những con đại bàng với khát vọng đưa doanh nghiệp Việt Nam ra biển lớn. Tất nhiên ở đây chúng ta chỉ bàn tới khát vọng, còn khả thi hay khả năng là chủ đề của những cuộc trao đổi khác.

Xuyên suốt cuốn “Khuyến học” nhà tư tưởng vĩ đại của Nhật Bản, ông Fukuzawa Yukichi đã truyền khát vọng học tập cho thanh niên, cho lớp người cả đời họ và muôn đời trước đã coi thân phận thấp hèn của mình như là sự mặc định tự nhiên. Học trước tiên để làm người độc lập, tự do. Học để hiểu mỗi cá nhân là một mắt xích trong xã hội, sự tự do độc lập ấy tức là biết vị trí của mình trong xã hội, quyền được làm người, làm một quốc dân có tinh thần dân tộc. Đó là thực học.

Tinh thần thực học đã từng được du nhập vào Việt Nam bởi phong trào Duy Tân. Vào thời kỳ này, một số trường tư thục được mở ra với mục đích khơi gợi và nuôi dưỡng việc học tập để có nghề, có nghiệp trên cơ sở thúc đẩy tự do cá nhân, khát vọng dân tộc. Nhà nghiên cứu Bùi Trân Phượng đánh giá phong trào Duy Tân “Thiết lập nền học mới vì một tương lai dân tộc Việt thoát khỏi thân phận nhược tiểu bị khinh khi, ức hiếp không phải chỉ là tâm huyết của những người mở trường và đội ngũ sư phạm, còn là sự đồng tâm của xã hội”. Dù chỉ tồn tại trong vòng 9 tháng nhưng ảnh hưởng của phong trào Duy Tân đã lan rộng đến nhiều nơi trên đất nước, như những con sóng liên tiếp nối nhau, những dư âm và hồn cốt của phong trào còn lưu lại đến ngày nay.

Học cái gì? 

Ngay từ trang đầu của “Khuyến học”, Fukuzawa Yukichi đã đưa ra câu trả lời cho việc học cái gì? Rất cụ thể, ông gọi Nho học là cách học “dẫn đến tán gia bại sản”, ông thẳng thắn và cụ thể đưa ra các môn học hữu dụng cho đời sống từ kinh tế đến đạo đức. Vậy những nội dung học mà ông đưa ra cách đây 150 năm cho xã hội Nhật Bản có còn hữu dụng ở thế giới hiện tại và xã hội Việt Nam hiện tại?

Đã ở thế kỷ 21, khi nhiều quốc gia đã bước qua giai đoạn thành công mỹ mãn của thời kì cách mạng công nghiệp, cách mạng công nghệ và tương ứng với nó là các mô hình đào tạo thực dụng, theo nghĩa chỉ đào tạo các ngành nghề mà xã hội tại thời điểm đó đang thiếu và cần.  Ngay cả với  Mỹ đã được cảnh báo về xu hướng đào tạo này (từ trước cuộc khủng hoảng kinh tế), nay trăn trở với sự phát triển bền vững trong giáo dục, quay trở lại đặt câu hỏi: liệu các môn học thuộc khoa học cơ bản, khoa học xã hội đã được quan tâm đúng mức? Nghĩa thực dụng của giáo dục khai phóng là giáo dục hướng tới mục tiêu con người tự do, con người trưởng thành có tư duy và trách nhiệm và do đó sẽ có khả năng phát triển mọi ngành nghề mà họ đam mê, chứ không chỉ dừng lại ở mục đích cung cấp các kỹ năng thực dụng cho một nghề đang thiếu tại thời điểm ngay lúc đó của nền kinh tế thị trường, như một cách gián tiếp biến con người thành nô lệ của vật chất mà không khơi gợi được đam mê của một con người tự do. Vậy với Việt nam, mặc dù chưa chạm tới sự thành công của nền công nghiệp hay công nghệ, chúng ta có nên phớt lờ các cảnh báo này? Chúng ta nên cổ súy cho nền giáo dục theo hướng thực dụng của kinh tế tiêu dùng hay thực dụng của nền giáo dục khai phóng?

Tôi ủng hộ quan điểm giáo dục khai phóng đào tạo con người tự do, có trách nhiệm. Có tự do mới khơi gợi đam mê, có đam mê mới có thành công và đóng góp, không biến mình thành nô lệ vật chất hay bất cứ hệ tư tưởng nào. Khi đã đủ trưởng thành và tự do, đủ đam mê và trách nhiệm thì một hay vài năm đủ để trang bị các kỹ năng cơ bản cho các ngành nghề và chuyên môn hẹp.

Vừa qua sự kiện Nick Vujicic đến Việt Nam đã phần nào cho thấy sự thiếu hụt niềm tin và mục đích sống của thanh niên khi những cơ thể khỏe mạnh thông qua Nick để được an ủi, được thắp lửa. Đó là hệ quả tất yếu của sự thiếu hụt mục đích học tập, khát vọng học tập. Vậy do đâu mà họ thiếu? Câu trả lời do một nền giáo dục bừa bộn đã quá rõ ràng.

Vậy thì liệu một cuộc cách mạng giáo dục có khả năng cứu vãn niềm tin và thắp sáng khát vọng này không? Và học cái gì để đạt được mục đích đó?

Theo Hannah Arendt, học là để hiểu thế giới khách quan, bao gồm cả thế giới vật chất và con người. Tôi mạn phép bổ sung, học còn là để khám phá thế giới chủ quan, khám phá cái nội tâm của mỗi con người trong chúng ta để trả lời cho câu hỏi: chúng ta là ai trong thế giới này và khát vọng sống của mỗi chúng ta là gì? Tôi dùng chữ khát vọng không chỉ gồm những khát vọng to lớn thay đổi đất nước hay trở thành một nhà tư tưởng, một nhà khoa học, khát vọng để hiểu rõ cái nội tâm, cái mục đích làm người tự do của mỗi cá nhân cũng không kém phần quan trọng, dù đó là một người làm vườn hay một chính khách.

Vậy chúng ta có đi xa quá đến thành hư vô khi bàn tới đây cả mục đích làm người hay việc thấu hiểu nội tâm? Và phạm trù này có nằm ngoài việc học gì, cụ thể là học gì trong trường phổ thông và đại học hiện nay?

Rõ ràng không cần bàn cãi rằng việc có mặt các môn học từ khoa học cơ bản, đến các môn xã hội, các môn nghệ thuật, các môn chuyên ngành hẹp là các môn thực dụng của một nền giáo dục khai phóng trong nhà trường là tất yếu và cần thiết. Nhưng chúng ta học gì ở các môn này? Việc lựa chọn giảng dạy các môn học thực dụng nhưng theo lối Nho học, một lối đọc  - ghi, hay cao hơn là truyền đạt – ghi nhớ, như một sự nhồi nhét kiến thức và hoàn toàn vắng bóng phản biện hay đối thoại ở đây (tôi muốn nói ở đây là ngay từ lớp vỡ lòng) có ích gì chăng? Tôi cho là không nhiều nếu không nói là vô ích, nhất là trong thời đại mà một chiếc điện thoại bé xíu có khả năng ghi nhớ bằng hàng trăm nghìn lần khả năng ghi nhớ kiến thức cả đời đi học của một học sinh, sinh viên trung bình. Nếu tiếp tục giảng dạy theo lối này không khác gì bình mới rượu cũ, với lối thi cử trả bài như một cách cổ súy cho cung cách học tầm chương trích cú, không tư duy, thiếu tự do.

Học và dạy như thế nào?

Từ cách đây nửa thế kỷ đã tồn tại các lý thuyết về giáo dục như: Tư tưởng giáo dục dân chủ của John Dewey, trẻ em học trong lúc chúng tự thực hành và trong lúc chúng được tự mình sống cuộc sống thực và cuộc sống diễn ra ngay hôm nay; Tâm lý giáo dục lứa tuổi của Jean Piget (Piaget’s Gennetic Epistemology) và công nghệ giáo dục của Hồ Ngọc Đại, đưa ra một cách tiếp cận giáo dục hiện đại với bậc phổ thông. Và trước đó, hồi đầu thế TK XX, bất chấp lối thi cử và sách giáo khoa lúc đó, phong trào Duy Tân ở nước ta đã chú trọng đến vai trò chủ động của người học bên cạnh người thầy vẫn là nhân tố quyết định có khả năng định hướng cho người học tại các trường tư thục. Gần đây, ở nước ta, nhóm Cánh Buồm đã tiếp thu và vận dụng các lý thuyết và kinh nghiệm này thông qua cách học “learning by doing/ học tự nghiệm”, học thông qua hệ thống các việc làm cụ thể mà giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh trong từng giờ học để học sinh được tự làm, từ đó tự học, tự giáo dục. Người thầy chỉ làm nhiệm vụ định hướng chuỗi việc làm, học sinh tự trải nghiệm, hoàn toàn phủ nhận lối giảng dạy đọc - ghi, hay truyền đạt - ghi nhớ.

Giáo dục đại học lại càng cần đến tinh thần tự chủ và tự do của thầy và trò. Nếu chúng ta tham khảo các trường học Torah của người Do Thái sẽ thấy các hội trường chật như nêm và ở đó sinh viên hào hứng say mê đối thoại, tranh luận với nhau và với thầy. Không có cách học nào hiệu quả và khai phóng như cách biến mỗi sinh viên thành một người thầy, một nhà diễn thuyết, ngay cả với những môn tưởng như không liên quan gì tới nghệ thuật tranh biện như khoa học cơ bản.

Cần mặc nhận rằng chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ, giáo dục thế giới không còn loay hoay với phương pháp dạy hay bộ sách giáo khoa nữa. Giáo dục trong thế giới phẳng đã giúp người học ngụp lặn kiếm tìm trong thế giới công nghệ, nguồn học liệu đã không biên giới, không giới hạn. Khi mà ở bất cứ đâu bạn cũng có thể tham gia một giờ học như sinh viên Harvard, khi mà một ý tưởng của bạn có thể được hàng triệu người chia sẻ, một đóng góp nhỏ của bạn cũng có thể cho hàng triệu triệu người hưởng lợi. Chẳng hạn, một thanh niên Ấn Độ khởi sự một mình với Khanacademy nay đã là một nguồn học liệu mở và phong phú cho khắp thế giới. Vậy, nếu chúng ta biết cách dạy trẻ con một cách học chủ động, biết nâng niu cái động cơ hướng thiện, hướng thượng của việc học trong mỗi đứa trẻ thì với thời đại mà chúng sống, với môi trường mà chúng đang có, chúng hoàn toàn sẽ sớm biết sử dụng và tận dụng kho báu quý giá này, và như một sự đương nhiên một đứa trẻ biết học chủ động sẽ không thể là một thanh niên thiếu mục đích sống, thiếu khát vọng sống.

Từ những cứ liệu trên, kỳ vọng rằng một cú hích cho cả thầy và trò, để bắt đầu cho một cách học chủ động, học với tư duy và trách nhiệm làm người, học với sự trung thực cao độ. Chúng ta khuyến khích học sinh đem sách vở, tài liệu vào phòng thi, thậm chí có thể kết nối internet, như một nguồn tham khảo để giảm bớt việc cần phải thuộc lòng ghi nhớ.

Fukuzawa Yukichi đã từng khuyên các bạn sinh viên cách đây 150 năm nên đọc các sách của phương Tây, và nếu đọc được bằng văn bản gốc thì càng tốt. Chắc chắn rằng, lời khuyên vẫn luôn hữu dụng cho sinh viên Việt Nam hiện tại bởi tiếp cận giá trị phương Tây đồng nghĩa với sự tiếp cận tri thức khai phóng và sáng tạo, đặc biệt, việc tiếp cận nguồn tri thức bằng ngôn ngữ của các quốc gia kiến tạo ra nó sẽ giúp sự hiểu biết sâu và rộng hơn.

Học suốt đời

Một thực trạng đã và đang diễn ra trong xã hội chúng ta là sự tự mãn của số đông khi họ đã sở hữu tấm bằng trong tay. Họ tự đóng cửa giam mình lại trong cái mớ kiến thức nghèo nàn đến bần cùng trong quá trình học thụ động, thiếu tư duy, không khát vọng, chỉ để dành được tờ giấy thông hành; và rồi khi đã bước qua cánh cửa để có một chỗ ấm thân, họ rung đùi với sự “thành công” tột bậc ấy, bao nhiêu năng lượng có được chỉ nhằm để bày mưu tính kế leo cao, cao mãi. Không mấy ai trong số họ trăn trở và rèn rũa năng lực người, phẩm cách người.

Xét ngay khu vực giáo dục công, nơi được kì vọng và mặc định cao nhất về việc học tập suốt đời. Có vị giáo sư đã đưa ra con số thống kê: chưa đến 10% giáo viên, giảng viên biên chế tiếp tục đọc sách, học tập và nâng cao trình độ chuyên môn. Đó mới chỉ là nói đến chuyên môn, một thứ tất yếu phải nâng cao, mà chưa tính đến việc học tập vô vàn các lĩnh vực khác của cuộc sống để nâng mình lên. Liệu con số trung thực về việc các giảng viên, giáo viên đọc sách ngoài chuyên môn là bao nhiêu cuốn/năm?

Khi người thầy không đọc, không học đương nhiên không kích thích được tinh thần tự học, học suốt đời của học sinh. Có hai câu chuyện nhỏ mà nỗi buồn lớn: câu chuyện thứ nhất về việc không quản được thì cấm của Bộ giáo dục (về việc in và phát hành sách tham khảo), họ có luật cấm giáo viên giới thiệu tài liệu tham khảo tới học sinh dưới bất cứ hình thức nào? Có gì khôi hài hơn luật này không?!

Câu chuyện thứ hai, với cương vị là người thầy, tôi đưa sách đến học sinh để khuyến khích thói quen đọc và đọc rộng của các em thì gặp phải lời từ chối của hơn một học sinh giỏi rằng “bố mẹ em không cho đọc gì ngoài sách giáo khoa, sách tham khảo để học các môn trên lớp”, không biết các ông bố bà mẹ đó có hiểu được sách tham khảo để học tốt, để làm người tốt không phải chỉ là những cuốn sách có gắn mác “sách tham khảo”?

Liệu có giải pháp nào để hình thành thói quen và nhu cầu học suốt đời? Chưa bao giờ việc tự học và học suốt đời lại thuận tiện như bây giờ khi mà nguồn học liệu miễn phí trở nên vô tận và phong phú đến thế. Một xã hội bình đẳng, coi trọng dân chủ, tri thức và tri thức được đánh giá đúng đắn, được trả công xứng đáng sẽ tự nó là một xã hội học tập suốt đời. Sẽ không thể có sự manh nha của xã hội học tập nếu giá trị vật chất được đặt lên tối thượng, nếu mục đích sống cao nhất của mọi thanh niên là có xe Lexus, của mọi cô gái là có túi Louis Vuitton! Vậy giải pháp duy nhất cho xã hội học tập lại quay trở về vấn đề quả trứng và con gà, chỉ khi các hệ giá trị được tạo dựng đúng đắn chúng ta mới dần tạo ra mội xã hội học tập suốt đời, và ngược lại chỉ khi xã hội học tập suốt đời chúng ta mới tạo dựng lại được hệ giá trị đúng đắn cho mọi tấng lớp trong xã hội.

Thực học sẽ làm nên giá trị và nhân cách


Kết quả thi đại học vừa qua cho thấy, có hơn 66% thủ khoa là học trường làng. Có nghĩa những học sinh toàn do tự học là chính. Nhà văn Ngô Thảo cho rằng, hiện thực này mách bảo chúng ta nên bám sát văn hóa đọc, đó vẫn luôn là bệ phóng cho kiến thức, trí tuệ bay cao, còn tất cả những thứ khác chỉ là phương tiện.

- PV: Đa phần giới trẻ hiện nay lười đọc mà thường bị lôi cuốn bởi các phương tiện nghe nhìn… Hậu quả là kiến thức tuy có tăng về lượng nhưng lại thiếu chiều sâu và kỹ năng viết, diễn đạt cũng kém đi. Theo ông nên nỗi vì đâu?
- Nhà văn Ngô Thảo: Để làm việc, anh cần có rất nhiều kỹ năng, dẫu chỉ là cuốc đất cũng phải biết cuốc thế nào, như tiếng Quảng Trị, là khi nào dùng cuốc tai, cuốc chỉa, cuốc bàn, rồi còn mai, xẻng, xà beng… Lớp trẻ bây giờ đang mắc phải căn bệnh cái gì cũng biết, biết rất nhiều nhưng khi làm lại chẳng biết làm gì cả. Nghĩa là họ thiếu sự tỉ mẩn trong từng việc làm. Chúng ta cần phải dạy lớp trẻ những điều cụ thể như là anh nông dân phải biết trồng lúa mùa nào, ngày nào, chất đất ra sao. Rằng mùa màng chỉ có bấy nhiêu ngày, ngày nào nên dùng để gieo hạt, ngày nào phải ủ mầm, thóc bao nhiêu ngày… Chứ không phải như bây giờ, ai cũng nói được nhưng mấy ai biết những thao tác để làm ra nó ra sao.

Trong học hành cũng vậy. Tất cả mọi người đều đi học nhưng lại chẳng biết để làm gì. Ai cũng muốn tốt nghiệp đại học cốt lấy cái bằng để xin việc, nhưng thực tế thì sao, thất nghiệp đầy ra đấy, bằng tốt nghiệp treo xó bếp rồi xin đi làm bất cứ việc gì, miễn có tiền để nuôi sống bản thân.. Tôi không phủ nhận những người có định hướng thời nào cũng có nhưng tiếc rằng hiện nay số đó không nhiều.

Còn việc học ở trường thì nặng về lý thuyết chung chung, một người học nông nghiệp “ném” về nông thôn nhưng chẳng biết miền Bắc khác miền Nam ra sao, cây lúa ở vùng này khác vùng khác ra sao? Hiện nay, cái mà nhiều thanh niên học được đều chỉ mơ màng nên khi vào đời không có khả năng, không có kỹ năng lao động, kỹ năng sống… Mọi thứ họ đều thấy trước mắt nhưng họ không hề có kỹ năng để thực hành những công việc cụ thể.

Để học được, từ xưa đến nay người ta đều phải đọc, nhưng đọc trên giấy và đọc trên mạng hoàn toàn khác nhau. Mấy khi đọc trên mạng mà anh có được kiến thức gì? Trong việc học người ta thường chê học thuộc lòng nhưng thực ra, nếu không học thuộc lòng, anh không có cái gì cả. Có chăng anh đừng học thuộc lòng để làm việc cũng như học thuộc lòng thôi.

Đời này đến đời khác, có ai dạy mà người ta thuộc Kiều? Cái vốn sống thuộc lòng đó là cái mình phải biết nhưng sử dụng nó thế nào lại phụ thuộc bản lĩnh ứng xử của mình. Tại sao khi cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton sang Việt Nam dẫn một câu Kiều ra nói, mình cảm thấy sung sướng? Là vì ông ta đã đụng đến một điểm nhấn của văn hóa người Việt.

- Nhưng sự thực thì các phương tiện hiện đại cũng có chức năng như đọc là giúp người ta giao tiếp?

- Phương tiện hiện đại chỉ giúp người ta giao tiếp, đọc cũng là một cách giao tiếp để anh biết thế thôi, nhưng để học, dứt khoát phải có sách vở. Ngày trước phải thức thâu đêm ngồi đọc, ghi chép những câu thơ hay nhưng chính thế hệ tưởng như học rất quê mùa như thế mới viết sách, làm được nhiều việc, chứ thế hệ đọc lướt nhiều, biết nhiều lại chưa thấy viết được gì độc đáo. Bạn nên biết, trí nhớ con người có hạn, nó chỉ được rèn luyện bằng những kỹ năng rất cụ thể.

Hiện nay, việc lớp trẻ xa rời kỹ năng đọc sẽ tạo ra một thứ văn hóa khác. Đó cũng là lý do vì sao trong Hội nghị Gặp gỡ Việt Nam gồm các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới tại Việt Nam vừa diễn ra, người ta cũng lưu ý đến giáo dục và coi trọng khoa học cơ bản. Đó là chuyện ai cũng chấp nhận, tiếp thu nhưng không ai sáng tạo. Ngay cả truyện cổ tích, khi đọc ta chỉ nghĩ nó là thứ huyễn hoặc không có thực nhưng giá trị nó mang lại là vô cùng vì có một số người đọc nó nhưng không tin là cổ tích, đã biến những điều đó thành hiện thực. Trong thế giới chúng ta đang sống hiện nay, có biết bao điều mà mới đây thôi người ta cứ nghĩ đó là chuyện hoang tưởng. Để làm điều đó, dứt khoát phải là những người có đầu óc độc lập. Phải tự suy nghĩ mà chỉ suy nghĩ và sáng tạo được khi anh tự trang bị cho mình một vốn kiến thức thâm sâu về nhiều chuyên ngành khoa học, chứ không thể chỉ lướt trên mạng. Cho đến nay, cách học quan trọng nhất vẫn thuộc về cách đọc từ sách vở và thực nghiệm trong thực tế.

- Ở các nước tiên tiến, người ta dạy con trẻ cách đọc từ khi còn nhỏ để hình thành thói quen đọc sách sớm. Chúng ta có nên học theo cách này không, thưa ông?

- Đây là phương pháp giáo dục cơ bản. Nước ngoài sau khi tiếp thu khoa học, kỹ thuật tiên tiến, trải nghiệm cái lợi và cái hại của kỹ thuật, họ giác ngộ sớm hơn mình. Nhìn tình trạng đọc của lớp trẻ ta nhận thấy đây sẽ là thảm trạng trong tương lai. Một thế hệ không chịu đọc thì sẽ làm được điều gì? Không thuộc lấy vài trăm câu ca dao, tục ngữ; vài trăm câu Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, lắng nghe những làn điệu dân ca ba miền… thì lấy đâu ra vốn văn hóa dân tộc để sáng tạo? Mà vốn dân tộc mới là chứng chỉ quan trọng khi tham gia hội nhập với quốc tế.

Bạn thử đi phỏng vấn những nhà bác học, những kỹ sư sáng tạo… hỏi xem họ từng đọc bao nhiêu cuốn sách để có thể nghĩ ra, tìm ra phát minh, sáng tạo đó. Chỉ có cách đọc thực sự mới có thể chạm vào chiều sâu, hiểu được bản chất của vấn đề. Hơn bao giờ hết, văn hóa đọc nên được nhà trường, gia đình quan tâm. Đọc ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng chứ không phải chỉ là chuyện đọc sách truyện, sách văn học. Đọc cũng là một cách tự học và chỉ có tự học, mỗi người mới hoàn thiện hơn về mọi mặt. Cùng một khóa học, nhưng chỉ cần ra trường dăm mười năm sau, ai biết tự học là vượt trội lên hẳn.

- Nhưng xã hội bây giờ đòi hỏi con người phải cập nhật thông tin nhanh nhạy mà đọc sách thì cần thời gian để hiểu và sự tập trung cao độ. Thật khó để bắt thanh niên làm việc đó, thưa ông?

- Quả thật, thanh niên bây giờ ít người nói “cần cù bù thông minh”. Trong khi thực tế có hơn 66% thủ khoa là học trường làng. Có nghĩa những thủ khoa toàn do tự “cày” về kiến thức. Chính bằng chứng này mách bảo chúng ta nên bám sát văn hóa đọc, đó vẫn luôn là bệ phóng cho trí tuệ bay cao, còn tất cả những thứ khác chỉ là phương tiện. Nếu biến phương tiện đó thành phương thức sống, với vốn kiến thức ảo đó, bạn sẽ không đi được con đường dài đến tương lai.

Không phải bỗng dưng những tỷ phú như Bill Gates không trao tài sản cho con, mà vì họ tin con họ không chỉ giỏi như họ mà còn đi xa hơn nữa. Ngược lại, mình chỉ biết bao bọc, cho con đủ mọi thứ nên nó chẳng cần lao động. Ngày nay, không ai nhắc khái niệm Tự lực cánh sinh. Giờ đây, người ta chỉ nghĩ đến việc làm thế nào tìm được con đường ngắn nhất để có nhà cao cửa rộng, tiện nghi sinh hoạt thoải mái, có của ăn của để… Mặc dầu căn cứ vào đồng lương chính thức thì không làm sao cắt nghĩa được cho minh bạch. Có nghĩa rằng, có một số người có tài sản lớn không xuất phát từ công sức lao động. Thực tiễn xã hội này là bài học méo mó cho lớp trẻ thiếu bản lĩnh, một khi họ chỉ có một mục đích sống để hưởng thụ những tiện nghi, tài sản mà cha mẹ đã nhanh chóng kiếm được. Nhưng như thế anh là ai? Là vô danh tiểu tốt, sẽ là số 0, là con giun, con dế chứ không phải con người, đã là con người phải có danh gì trong trời đất chứ.

Hơn lúc nào hết, tư tưởng sống của nhà văn Nguyễn Công Trứ cần phải được nhắc lại để lớp thanh niên thấm nhuần và học theo: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Để có danh, tất nhiên anh phải đóng góp, phải làm được gì cho cuộc sống. Hình như bây giờ không ai nghĩ vậy mà chỉ nghĩ sống, tồn tại là được. Chí lớn, tầm nhìn xa có vẻ được người trẻ coi là những từ xa xỉ hoặc của một thời đã xa!

Bây giờ những người có ý chí để làm thay đổi cuộc sống của nhiều người khác cũng không nhiều. Ví dụ như ông Trương Gia Bình của Tập đoàn FPT hay Đặng Lê Nguyên Vũ của cà phê Trung Nguyên. Đây là những con người mà xuất phát điểm chẳng có gì đặc biệt nhưng ý chí của người ta hơn người, khi có ý chí thì dứt khoát phải học, mà cụ thể là đọc để có đầy đủ mọi kỹ năng cần thiết giúp ích cho công việc. Một con người có khả năng làm thay đổi cuộc sống của nhiều người. Xã hội ngày nay đang rất cần những con người như thế.

- Vậy điều cần thiết cho lớp trẻ bây giờ chính là tạo dựng, hun đúc lại ý chí và trách nhiệm của họ?

- Ngày trước cũng chính lớp trẻ là lực lượng chủ lực giành lại độc lập cho đất nước. Ngày nay, một con người sống trong bối cảnh đất nước tự do, thanh bình, hoàn toàn có thể bình yên để sống nhờ sự tạo dựng của người khác. Nhưng để đất nước ngày một tốt đẹp hơn, rõ ràng tuổi trẻ hôm nay phải có ý chí khác. Ai cũng bảo sao ngày trước sống với nhau tốt thế, ao ước bao giờ cho đến ngày xưa, nhưng con người thời ấy khuyết tật cũng không ít. Chiến tranh cũng làm con người méo mó đi chứ. Nhưng vì họ có lý tưởng sống và luôn sẵn sàng xả thân vì nó nên mới có đất nước độc lập hôm nay.

Công bằng mà nói thì sống trong cuộc sống thanh bình như bây giờ mà gìn giữ được đường biên đạo đức là rất khó. Đó cũng là trách nhiệm của lớp trẻ. Sau chiến tranh, những người có tuổi đã thể hiện sự bất lực khi chấp nhận một xã hội thực tế không như mong đợi; lớp kế cận cũng khó có thể làm được việc gì lớn, mà hiện thực xã hội nhiều vấn nạn hiện nay là nỗi lo lớn của cả dân tộc. Nhiệm vụ của lớp trẻ hiện nay phải cùng tìm đáp số để giải quyết bài toán này. Bây giờ mình muốn bảo vệ truyền thống quý giá của một dân tộc độc lập thì phải xây dựng một dân tộc hiện đại hơn.

Những phẩm chất như cần cù lao động, sáng tạo, thông minh phải được gìn giữ và phát triển. Niềm tự hào về dân tộc phải được nuôi dưỡng. Nhưng làm mới mẻ, hiện đại hơn bằng những phẩm chất mới phù hợp với xu thế của thời đại là điều cần thường xuyên nghĩ tới. Nhiệm vụ của tuổi trẻ không phải là xây dựng tương lai theo những khuôn mẫu mà người xưa đã vẽ ra. Đến lượt mình, họ phải xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, nhân văn phù hợp với điều kiện và xu thế của thời đại. Đó là công việc rất lớn mà lớp trẻ phải đảm đương. Một công việc cần rất nhiều tâm huyết, trí tuệ, nhiệt tình của lớp trẻ.

Để làm được điều đó không còn cách nào khác mà chính các bạn phải học và tự học, tự tìm tòi sáng tạo lấy. Nếu chỉ học lý thuyết, kinh nghiệm quá khứ chung chung không thể giải quyết được những vấn đề của xã hội hiện tại. Quan trọng nhất chính là dạy cho lớp trẻ biết và có ý thức về trách nhiệm với sự phát triển của xã hội hiện nay. Điều đó không phải là mới mẻ. Hãy nhớ lại bức thư đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi học sinh cả nước trong ngày khai trường đầu tiên của chế độ mới gần 70 năm trước.

- Nhưng để buộc giới trẻ quen với công nghệ, sống nhanh, sống gấp… với thói quen thích hưởng thụ hơn là việc chịu đọc sách là một điều rất khó, thưa ông?

- Đây là trách nhiệm của nhà trường. Mỗi cá nhân sinh ra đời phải tự biết mình muốn điều gì, muốn hưởng thụ từ những thành quả của quá khứ để lại, hay tạo được dấu ấn cho riêng mình? Người cứ sống và hưởng thụ cho qua kiếp người khác với cá nhân tự tìm đường hướng cho cuộc đời, để sự hiện diện của mình phải làm cho cuộc sống khác đi, giúp nó đẹp hơn, tốt hơn. Những điều này phải được giáo dục ngay từ khi còn ở nhà trường. Giáo dục không chỉ là dạy cho học sinh biết chữ với những kiến thức bách khoa mà cần hơn là giáo dục ý thức sống có trách nhiệm với sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Chỉ cần có ý thức, lớp trẻ sẽ làm được nhiều hơn điều mà chúng ta luôn mong muốn.

- Vậy, theo ông, phải mất bao lâu nữa thì thanh niên Việt sẽ lại có thói quen đọc trở lại?

- Đừng suy nghĩ theo kiểu đồng loạt như vậy. Thời nào cũng có những bộ phận thanh niên sống có lý tưởng và lấy học tập làm phương thức chủ yếu trang bị kiến thức và kỹ năng sống và làm việc cho mình. Đối với họ, đọc và học là công việc thường xuyên và suốt đời. Ngày nay bộ phận đó cũng không phải là quá thiểu số. Mấy năm gần đây, lượng xuất bản phẩm được tiêu thụ đã có chiều hướng tăng lên. Nhưng chúng ta quan tâm đến mặt bằng của tuổi trẻ học đường, đặc biệt ở nông thôn. Điều này phải được bắt đầu từ đội ngũ giáo viên. Một người thầy chăm học, chăm đọc sẽ bằng chính tấm gương của mình, truyền tình yêu và kinh nghiệm sống đó cho học sinh của mình. Thời phổ thông, tôi có may mắn được học ở Trường cấp III Huỳnh Thúc Kháng thành phố Vinh, Nghệ An.

Điều đặc biệt là sau này, hầu hết giáo viên của chúng tôi thưở ấy đều trở thành những giảng viên có uy tín ở các trường đại học. Họ đã nêu một tấm gương để học sinh ở vùng quê đó nhiều năm trước đậu đại học đều trên 90%. Thầy và trò cùng học, cùng đọc sẽ tạo nên một thói quen, một nếp sống lâu dài cho mỗi học sinh khi vào đời. Hy vọng là trong chiến lược cải cách căn bản nền giáo dục đang được cả xã hội chú ý hiện nay, cùng với việc chọn khối lượng kiến thức hợp lý và cập nhật, việc giáo dục ý thức trách nhiệm của mỗi người và kỹ năng làm người, kỹ năng sống và lao động của mỗi người sẽ được chú ý đúng mức, đặt đúng vị trí. Khi đó việc tìm đến văn hóa đọc, kỹ năng đọc như là phương tiện để học tập suốt đời sẽ không còn phải đặt ra một cách riêng lẻ, hay một cuộc vận động mà hiệu quả thực tế không có bao nhiêu.

Riêng tôi tin, sau một thời gian cả xã hội cổ vũ và chăm chú chạy theo lối sống tôn sùng vật chất, lấy sự làm giàu cho cá nhân là mục tiêu, lấy sự hưởng thụ vật chất làm lẽ sống, sẽ tất yếu dẫn đến những hệ lụy về sự phân biệt bởi khoảng cách giàu nghèo, vô tình khôi phục lại một xã hội phân chia giai cấp, nghĩa là xa rời mục tiêu lý tưởng của cuộc cách mạng, thì bằng một cách nào đó, nhất định phải có sự điều chỉnh ở cấp vĩ mô. Quần chúng lao động đông đảo từng là đội quân chủ lực của cách mạng vẫn chưa có cuộc sống gọi là hạnh phúc đã đành, mà chúng ta đang chứng kiến hiện tượng không phải những người giàu nhất là những người hạnh phúc nhất. Đó là hậu quả của định hướng phát triển xã hội không đặt trên nền tảng văn hóa. Ngay buổi đầu dựng chế độ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Khi sự điều chỉnh này diễn ra, trước hết trong giáo dục, thì việc coi trọng văn hóa, coi trọng lối sống có văn hóa nhất định sẽ dẫn đến nếp sống, mà trong đó văn hóa đọc sẽ được coi là đương nhiên, bởi việc thực học sẽ làm nên giá trị, phẩm chất và nhân cách của con người Việt Nam trong tương lai.


THÁI LINH