thư mục

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

Người Pháp đã nhận ra “toan tính” của Trung Quốc đối với Việt Nam từ năm 1909



Tại khu vực Biển Đông, Trung Quốc đang công khai các hoạt động vi phạm chủ quyền của Việt Nam, leo thang quân sự. Còn ở đất liền thì công dân Trung Quốc lại có các hoạt động làm ảnh hưởng đến kinh tế xã hội của người Việt. Đây thực ra không phải là những hành động mới thực hiện mà trên thực tế, những toan tính này của Trung Quốc đã được người Pháp nhìn ra và đánh giá từ năm 1909.

Xin được trích một vài đoạn từ cuốn “Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới”. Quyển 1 tập 1. NXB Đà Nẵng – 2001. Cuốn sách này, như tên gọi của nó mục đích không phải giới thiệu những tư liệu của người Pháp nói về người Trung Hoa, mà nói về cụ Phan Châu Trinh. Tuy nhiên, trong phần Thăm Ấn Độ và Đông Dương của cuốn sách, Viện sĩ người Pháp De Brieux đã thể hiện rất rõ cách nhìn nhận và đánh giá của mình đối với người Trung Hoa trong mối quan hệ với người An Nam và cả khu vực Đông Dương.

Viện sĩ De Brieux đã có cách nhìn rất thực tế và bao quát:

“Phải nghĩ và làm quen với ý nghĩ là dù chúng ta (người Pháp) có làm gì đi nữa cũng không thể mãi mãi giữ Đông Dương được.

Nếu chúng ta không trả cho người An nam thì có kẻ sẽ giành lấy.

Và kẻ đó chính là nước Trung Hoa.

Và ngày mà ở châu Âu chúng ta phải đương đầu với một cường quốc thì ngày đó người Trung Hoa sẽ nhẹ nhàng chiếm Đông Dương như người Ý năm 1870 đã chiếm lấy đất đai của Giáo hoàng. Nếu người Sài Gòn muốn chống lại thì với 100 nghìn người Trung Hoa ở chợ Lớn họ không cần súng ống cũng trị được. Ở đâu trên đất Đông Dương cũng vậy, cứ 1 người Pháp thì đã có 20 người Trung Hoa.

Và ngay người An Nam, nếu ta không cảm hóa, họ cũng sẽ đưa tay ra đón những người Tàu mà họ gọi là “các chú”, mà quên mất những người đó đã là chủ cũ của nước này.

Nhưng Trung Quốc có cần xâm chiếm không? Đông Dương đã là của họ rồi. Chúng ta là chủ danh nghĩa, họ là chủ thật sự. Chúng ta đưa lính đến, họ đưa con buôn đến. Chúng ta mơ có thuộc địa để đến làm giàu, nhưng chính họ thực hiện giấc mơ đó. Chúng ta cai trị thuộc địa, họ khai thác nó.

Ta coi người nông dân An nam là xa lạ, họ quen biết, họ nói cùng tiếng nói, họ dùng tiền mua thóc lúa non, lúa già, mua trả sòng phẳng. Họ biết tính để cho người nông dân đủ sống để cày cuốc làm ra thóc gạo.

Thương nghiệp nằm trong tay họ. Họ tuồn thóc gạo cả xứ theo các kênh rạch về các hãng xay xát ở chợ Lớn và, bán gạo xong họ nhét tiền đầy túi, trở về xứ sở nằm nghỉ.

Sức mua bán của dân tộc này thật kỳ quặc. Trong một làng nghèo đói không mua bán gì, có một người Tàu đến, nhận làm  thuê vất vả… Chỉ 2 năm sau, y có một cửa hàng nhỏ, cả làng đều vay mượn y. Và những người Tàu khác sẽ đến theo.

Sự đoàn kết của họ ngoài sức tưởng tượng: trong cửa hàng, đến giờ ăn họ xúm lại quanh bàn, ở trần như nhau, không phân biệt chủ và người làm. Ăn xong là làm việc, kỷ luật ra trò. Họ biết chia nhau quyền lợi, không tranh chấp, đoàn kết chặt chẽ. Ví dụ ở Rangoom họ quyết định không để cho người Tàu kéo xe, thế là không có người Tàu kéo xe. Thợ Tàu đến được dùng vào làm việc khác.

Họ không sợ khổ, không sợ chết. Họ chèo thuyền ra đánh cá trong lúc sóng to gió lớn…
Họ bất chấp toán học và vẫn tính toán đâu vào đấy. Họ thông minh và rất nhạy cảm với cái mới. Cái gì họ không mời nước ngoài đến làm là họ tính để tự làm. Quân lính họ sử dụng vũ khí thành thạo, hành quân cả sư đoàn…

Làm sao ta có thể bảo vệ Bắc Kì khi họ cảm thấy bị chật chội hay buôn bán khó khăn và đưa một quân đoàn vượt qua Lạng Sơn? Suốt dọc biên giới chúng ta không có thành lũy pháo đài nào để chống trả cả.

Với biển người của họ, ta làm sao chống được bằng mấy tiểu đoàn? Nếu có thủy quân họ sẽ vào thẳng Nam kỳ, qua Cap Saint Jacques có khó hơn chút ít thôi. Chúng ta không có phòng thủ gì hết trên sông Sài Gòn…

Trong khi tính toán tất cả các vấn đề đó, chúng ta phải cố gắng đặt dấu ấn trên người An nam, càng sâu càng tốt để sẽ còn một cái gì đó của trí tuệ chúng ta tiếp tục được duy trì…”

Sau một thế kỷ thăng trầm, những gì người Pháp đã viết vẫn làm cho chúng ta phải suy ngẫm. Phải chăng người Việt vẫn chưa biết cách rút kinh nghiệm từ lịch sử của chính mình!

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Vì sao nền kinh tế Việt nam thảm hại đến thế?


Sau khi đọc bài viết “Nền kinh tế đang có nguy cơ lao dốc không phanh”, tôi thiết nghĩ nên có đôi lời cần chia sẻ với độc giả. Cũng như tôi, có lẽ những điều tôi sắp nói mọi người đã biết cả rồi, nhưng lạ lùng thay chẳng tờ báo nào viết lại cả. Và có vẻ các nhà kinh doanh ở Việt Nam đều tảng lờ chẳng ai dám thẳng thắn thừa nhận.

Chúng ta hãy dẹp hết những khái niệm, học thuyết hay những ngôn từ phức tạp trong kinh tế đi mà dùng những lời lẽ “bình dân học vụ” nhất mà ai cũng từng biết.
Mọi người có biết một trong những lí do tại sao nền kinh tế Việt Nam thảm hại đến thế không? Đó là do chính con người Việt Nam tạo ra đấy! Mọi người đừng nhảy cẫng lên phản đối, vì tôi cũng là người Việt Nam mà, có thế nên tôi mới biết điều đấy!
- Trên đời này làm gì có dân tộc nào mua nhà thì bằng vàng, mua xe thì bằng USD như người Việt chúng ta? (cho đến khi CP chịu không nổi nữa, điên lên gào: “Tất cả các mua bán, giao dịch ở Việt Nam đều phải sử dụng VNĐ” thì mới miễn cưỡng thôi không chơi USD nữa). Chúng ta cũng không hề yêu Mỹ mà chúng ta yêu dollar Mỹ thôi.
- Thử hỏi cả thế giới này, có dân tộc nào sính ngoại kinh khủng như Việt Nam? Nghe tới đồ khựa, đồ Việt là không chơi, nhưng chỉ cần nghe đồ Nhật đồ Mỹ là chơi tuốt mà chả cần biết là nó cũng "Made in China" cả. Trong cơn thập tử nhất sinh, hoặc khi nhờ bác sĩ kê đơn thuốc người nhà bệnh nhân vẫn "căn dặn" bác sĩ dùng thuốc ngoại cho nó xịn và bỏ ngoài tai lời khuyên của bác sĩ.
- Thử hỏi có doanh nghiệp nào “ngu” như doanh nghiệp tư nhân Việt Nam? Lúc kinh tế hưng thịnh thì bỏ rơi người tiêu dùng trong nước, lao đầu ra thế giới tìm kiếm vài xu lẻ ngoại tệ. Xui thay mới gia nhập WTO thì khủng hoảng kinh tế (nhờ Mỹ cả, cảm ơn cuộc chiến Apganistan của anh nhiều, nó đẩy dân anh ra đường và cả thế giới lao đao !) Thế rồi bán hàng không được, cuống cuồng đâm đầu về đất mẹ dựng vào cái chiêu bài rẻ tiền nhờ truyền thông nhà nước "Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt"?. Vậy cái lúc kinh tế hưng thịnh còn thấy được cơ hội tranh đồng ngoại tệ, các anh ở đâu ? có trưng khẩu hiệu này hay không? Và cả lúc hưng thịnh lẫn khốn đốn. Các doanh nghiệp có thực sự “Ưu tiên cho người Việt dùng hàng Việt chất lượng cao hay không? “.
Các anh có thực sự muốn làm kinh tế Việt Nam sáng sủa lên không, làm người dân Việt Nam giàu có lên không hay chỉ đơn thuần xem Việt Nam như cái phao cứu sinh cho các phi vụ làm ăn vô cùng manh mún của các anh. Câu này tôi gửi thẳng cho các tập đoàn, công ty lớn luôn chứ không chỉ các công ty nhỏ đâu, vì tôi đã theo dõi động tĩnh và hành động các anh trên truyền thông một thời gian dài rồi, từ trước khủng hoảng kinh tế cơ đấy.
- Các doanh nghiệp khối nhà nước và cả chính phủ Việt Nam, đầu óc nhìn xa trông rộng của các anh đến đâu? Kể ra thì vô số cái tên thua lỗ như Vinashin, Vinalines, EVN, hay những kẻ chuẩn bị toi mạng ngầm như Petrolimex chẳng hạn. Khi các anh mở rộng khi doanh các anh có biết bài học cơ bản nhất là để kinh doanh bền vững cần phải kinh doanh xoay quanh lõi không?
Ví dụ như anh đóng tàu thì chỉ kinh doanh quanh việc đóng tàu, nguyên liệu mà thôi, đằng này các anh thấy chứng khoán, bất đồng sản, vàng, CN xe hơi, v.v… Các anh lao vào chơi tuốt vì chỉ 1 chữ duy nhất: “Sinh lời”!
Như vậy các anh sụp đổ hoàn toàn không có gì là bất ngờ đối với người dân và các nhà kinh tế hết. EVN bên điện sao không lo các nhà máy điện hạt nhân, phong điện, nhiệt điện đi? Nhảy vào viễn thông làm gì cho thua lỗ?
Vẫn các vấn đề gạch đầu dòng trên, bây giờ xin mời nhìn qua 2 nước nước láng giềng thân cận, một là Nhật Bản mà người Việt ta vẫn hằng ngưỡng mộ và một là “quốc thù” của dân tộc Việt Nam mà ta vẫn hằng ghét cay ghét đắng: Trung Quốc.
Họ có điểm chung gì? Đấy chính là tinh thần dân tộc cực cao.
Khi các doanh nghiệp mới chập chững những bước đầu tiên. Điều mà họ làm là củng cố thị trường trong nước, để tạo hậu phương vững chắc cho doanh nghiệp, tạo một “không gian sinh tồn” riêng cho doanh nghiệp. Nên khi ra biển lớn đã đầy rẫy kinh nghiệm trong nước, từ triết lý, phong cách để thiết kế sản phẩm, chiều lòng khách hàng cho đến các chiến lược marketing đã chuẩn bị sẵn, có hậu phương vững chắc nên kinh doanh vô cùng thành công.
Một số cái tên có thể tạm nêu ra đó là Toyota, Panasonic, Mitsubishi, … của Nhật hay thậm chí là Huewei, ZTE của Trung Quốc.
Cho nên, nếu vô tình có xảy ra khủng hoảng thì vẫn có hậu phương, vẫn có đấy 1 đội ngũ người dùng quê nhà “vô cùng đông đảo và hung hãn” sẵn sàng tiêu thụ sản phẩm nội để cứu chữa công ty. Đó là lí do tại sao nhiều tập đoàn Nhật gặp khủng hoảng cũng không đến nỗi phá sản như Việt Nam, họ chỉ suy giảm mà thôi.
Tôi lấy ví dụ trong ngành mà tôi khá rành, đó là hàng công nghệ cao. Món tiêu biểu: điện thoại Nhật! Điện thoại nắp gập của Nhật cấu hình còn khủng hơn điện thoại của thế giới. khi các điện thoại thế giới độ phân giải tối đa là 8MP thì Nhật đã là … 15MP, khi ở Mỹ mới chậm chững ra dòng Nexus đầu tiên của google thì nắp gập Nhật đã có CPU 1Ghz . Tôi đọc bài báo mà tưởng mình nhìn nhầm, còn độ bền điện thoại ? khỏi bàn cãi, điện thoại Nhật bền đến độ đập cũng không hỏng, chứ không phải như điện thoại các hãng gập lên gập xuống vài lần đứt dây màn hình.
Còn về độ ưu tiên cho khách hàng trong nước? Có những đĩa game mà muôn đời không bao giờ họ xuất ra nước ngoài, dẫu cho fan thèm rỏ nước dãi, nếu họ bán họ sẽ thu lợi nhuận lớn nhưng họ chỉ cần sản xuất để phục vụ trong nước mà thôi. Còn người nào thèm thì mặc kệ!
Có ai biết tại sao điện thoại Nhật không gắn sim mà lại tích hợp luôn sim vô điện thoại? Một trong những lí do đấy là để điện thoại không bị xách tay ra nước ngoài, phá mã rồi bán. Ba tôi đi Nhật nói họ còn cấm không cho đem điện thoại họ ra khỏi nước Nhật.
Họ chỉ muốn bán những thứ tốt nhất cho dân họ mà thôi, cho nên nếu các bạn thấy coi phim mà thấy ở Nhật sài iPhone thì đó chỉ là lời nói dối rẻ tiền thôi, chỉ là Apple ngầm đưa tiền để quảng cáo Macbook, iPhone, iPad thôi. Vì số lượng iPhone bán ở Nhật làm sao nhiều bằng ở … Việt Nam! (ai kinh doanh điện tử xin vui lòng kiểm chứng xem tôi nói có đúng không nhé!).
Còn bây giờ ta nói về anh láng giềng sát nách chúng ta, Trung Quốc. Chúng ta thường hay “khen” trình độ ếch nhái thượng thừa trong các sản phẩm copy của Trung Quốc nhưng liệu chúng ta có hỏi ngược lại một câu là những sản phẩm ấy copy ấy tiêu thụ thế nào không? Chính mớ dân số 1 tỷ 4 đấy tiêu thụ.
Dù rằng nói ra thì vẫn có tranh cãi là tại nghèo họ mới tiêu thụ mớ đồ rẻ tiền, nhưng liệu khi có những thương hiệu “tàu” mạnh, liệu họ còn mua iPhone nữa không?
Đó chỉ là dẫn chứng sơ lược vì nếu kể tiếp về tinh thần sính nội và dân tộc cao của Nhật Bản, Trung Quốc thì mấy chục trang giấy cũng không hết được.
- Điều tiếp theo cần bàn đến là cái thói bảo hộ của chính phủ chúng ta và cái thói “chó cậy gần nhà” của doanh nghiệp nhà nước. Một dẫn chứng duy nhất thôi nhé: Beeline. Thế có ai tự hỏi phần chìm của tảng băng, phần lí do tại sao rút vốn không được trưng lên mặt báo chính thống ấy là gì hay không?
Ta hãy tập xâu chuỗi các vấn đề lại một tý, ngay trước thời điểm Beeline rút khỏi Việt Nam, hãng này đã đánh một cú rất mạnh trong kinh doanh: Đó là gói cước tỷ phú mà người tiêu dùng Việt Nam vô cùng thích thú. Và chuyện gì đã xảy ra?
Ngay tức khắc các doanh nghiệp trong nước, hay nói thẳng là doanh nghiệp nhà nước thay vì tìm cách tung chiêu cạnh tranh lành mạnh thì lại rỉ tai Cục Viễn thông - Bộ Thông tin và Truyền thông để tìm kiếm một lệnh cấm, phạt cho Beeline. Và Beeline nói gì? Họ im lặng.
Kết quả là vài tháng sau đấy. VimpelCom lặng lẽ rút vốn khỏi Việt Nam mà lí do thì rất loanh quanh. Sự thực là sao? Là họ sợ chính phủ Việt Nam quá, bênh vực “gà nhà” quá! Doanh nghiệp Việt Nam chơi bẩn quá.
Bây giờ ta sẽ nói đến mặt tối nhất của vấn đề viễn thông. Mọi người có ai tự hỏi tại sao chỉ có mỗi VimpelCom của Nga vào Việt Nam kinh doanh viễn thông không? Tại sao không có AT&T (Mỹ), Vodafone (Úc), NTTDocomo (Nhật), ZTE (Trung Quốc)? Đó là vì đối tác Nga từ xưa (là Liên Xô) đã thân thiết với Việt Nam, nên họ kinh doanh chỉ thuần kinh doanh và không có mưu đồ chính trị gì cả.
Còn những nhà mạng trên như tôi kể tên, đặc biệt là AT&T và Vodafone thì chúng ta sẽ tha hồ thấy các sản phẩm “có vấn đề” tràn ngập điện thoại mình, góp thêm việc cho ngành an ninh. Đây cũng là một trong những lí do rất tế nhị khi để đối tác kinh doanh ở Việt Nam.
Thêm vào đó, Beeline cũng đâu có vào Việt Nam được một mình. Mà phải hợp tác với Gtel. (Còn nhìn lại các nhà mạng Việt Nam hiện tại xem, VNPT (Vinaphone, Mobifone) hay Viettel, hai “thằng” đứa thì con đẻ nhà nước, đứa thì … con hoang của chính phủ. Hỏi xem tại sao không “chó cậy gần nhà”? Khi ngành công nghiệp viễn thông ở Việt Nam đã đạt đến độ bão hòa, đây là lúc cho các anh vung cánh phát triển ra khỏi đất nước, các anh có lượng người dùng mạnh thì yên tâm ra khỏi bóng mẹ rồi đấy. Đầu tư đi, thiếu gì nơi hứa hẹn như Châu Phi? Châu Mỹ La Tinh, sao cứ tiếp tục bám váy mẹ (Chính phủ) để chăn dắt gà nhà (người Việt) vậy?
Movitel ở Mozambique chỉ là 1 dự án đầu tư rất nhỏ của Viettel cho Châu Phi mà thôi, trong khi các anh thừa sức làm hơn thế vì viễn thông là thế mạnh của Việt Nam mà? “Bao cấp” luôn cho Viễn thông 2G và internet ADSL Việt Nam đi, rồi 2 anh hợp sức “chống Mỹ” ở USA hay tấn công vào Châu Phi, Châu Mỹ? Venezula, Cuba luôn mở rộng vòng tay chào đón đồng minh thân thiết cơ mà?
- Vấn nạn nữa, đó chính là trình độ “làm giá” của người Việt. Tôi nhớ mãi một câu nói của một chuyên gia kinh tế đến Việt Nam mà thầy tôi thuật lại: “Không thấy một đất nước nào như Việt Nam, một người bán hàng tăng giá là đồng loạt mọi người đều tăng” Mà khi xuống giá chẳng có ai muốn xuống, giá cứ giữ mãi thế thôi, hoặc tăng!
Ví dụ: Cổng trường học buổi tối của tôi, từ khi khủng hoảng kinh tế đến nay, giá giữ xe máy từ 2.000 đồng lên 3.000 đồng và cứ đứng đấy nhìn, không thèm xuống mặc dù khủng hoảng đã hết, ai cũng than nhưng chẳng ai dám ý kiến, rồi thế mỗi ngày trôi qua, thu lời hơn 1.000 đồng, 500 đến 1.000 chiếc xe trong một đêm, “tích tiểu thành đại” thì liệu có ít không?
Bác Sen ơi, bác đừng lo vấn đề đại biểu quốc hội nữa, về coi trường Nhân Văn của mình từ cái khâu nhỏ nhất là giữ cửa đi, lo ba cái việc “đao to búa lớn” quá mà hiệu quả thực chả đến đâu. Trong khi sinh viên trường thì bức bối với gửi xe, với phòng công tác học sinh – sinh viên (nhiều lúc làm mình nhầm tưởng vào lộn sở thuế hay phòng nhà đất của chính phủ - trình “hành dân” cũng tương đương như thế).
Honda làm giá xe máy kinh khủng như vậy (đừng hỏi tôi đưa dẫn chứng chứng minh nguyên nhân làm giá, kẻo bài viết lại dài thêm vài trang), mà lãnh đạo Việt Nam lờ đi không thèm phạt, hóa đơn giả giá sai rành rành, nhưng vẫn “chăn” dân đến chục năm rồi. Tâm thức người Việt vốn trọng bền sâu, thích ổn định nên tâm lý xe Honda Nhật tốt nên muôn đời Honda Việt Nam vẫn tốt dù Yamaha, Suzuki cũng không hề kém cạnh.
Bó rau muống ngoài chợ từ 2.000 đồng lên 3.000 đồng cách đây 5 năm và tôi đoán chắc giờ phải hơn thế nhiều, nhưng có mấy khi thấy giảm giá không hay chỉ tăng?
Trên đây là những gạch đầu dòng điểm qua các lý do tiêu biểu nhất trả lời cho câu hỏi: “Tại sao nền kinh tế đang nguy cơ lao dốc không phanh”.
Tóm lại ta thấy cái lí do lớn nhất khiến không chỉ nền kinh tế, mà toàn bộ xã hội xã hội “lao dốc không phanh” (ví dụ như chuyện cướp, giết, hiếp, tai nạn, tham nhũng v..v tràn lan), đó chính là Ý THỨC CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM.
Dân không sính ngoại thì làm sao đồng tiền mất giá? đồng tiền mất giá mới dẫn đến lạm phát. Rồi chính người dân than rồi chửi chính phủ kém. Làm chính phủ đi rồi sẽ thấy họ bù đầu khốn khổ với tính cách thất thường của người dân Việt Nam như thế nào, phải “ở trong chăn mới biết chăn có rận” nhé!
Doanh nghiệp tư nhân bao giờ mới có tầm nhìn đủ xa trong việc xây dựng thương hiệu bền vững? Trong việc đem lại sức mạnh cho nền kinh tế Việt Nam? Nếu cho một bài thuốc thử: doanh nghiệp anh đang vững mạnh, bảo các anh hy sinh đi để cứu cả nền kinh tế, các anh có dám chấp nhận sẵn sàng hi sinh phá sản ra đường để cứu cả nền kinh tế Việt Nam hay không?
Nếu các anh mạnh dạn gật đầu: “Có” thì tức là các anh chắc chắn sẽ kiếm được con đường vững chãi nhất cho mình. Yên tâm doanh nghiệp anh sẽ tìm được hướng đi tốt và không sợ phá sản vì sẽ được chính phủ, người dân tin yêu mà chống lưng cho khi ra biển lớn (cùng lắm là tăng trưởng … âm vài tháng là cùng). Doanh nghiệp là ai? không phải là dân đi làm kinh doanh thành ra doanh nghiệp à, doanh nghiệp sai lầm đổ vỡ không phải là người dân sai lầm à? Đó là vấn đề ý thức.
Chính phủ là ai? quan chức là ai? Họ không phải dân đen, nhờ may mắn mà lên nắm quyền lực à? Khi còn là dân đen, ta thường chửi xéo lũ quan làm tham nhũng, là hành dân, nhưng rồi khi chúng ta leo lên cái ghế đấy ngồi, liệu chúng ta không lãng phí của công, tham nhũng, hay coi thường chính dân đen hay không? Thói đời là thế. Gặp người nghèo thì ta khinh, gặp người giàu thì ta ghen ghét. Vẫn là vấn đề ý thức.
Chính phủ muốn con mình cứng cáp (các tập đoàn nhà nước), thì dìu như vậy là đủ rồi, hãy thả ra cho chúng nó tự bơi đi, tụi nó mà chìm tụi nó sẽ tự có kinh nghiệm mà đứng lên. Đừng dùng pháp luật hay các chính sách bảo kê nó.

Nếu tất cả các thành phần tôi kể phía trên mà tự mình nâng tầm ý thức lên cao hơn, thì liệu chúng ta còn thấy đồng tiền Việt Nam yếu đuối như bây giờ không? Thì liệu có cần công an “đứng đường” canh đua xe không? Liệu có tai nạn giao thông nữa không? Liệu còn tham nhũng không và cuối cùng, có giải quyềt được bài toán “Nền kinh tế đang có nguy cơ lao dốc không phanh“ không ? Chắc chắn là được, hoàn toàn có thể.

Vậy cá nhân tôi thì sao ? Tôi thực ra là một người khá cầu toàn một chút, tôi chỉ chọn thứ gì tốt nhất (tốt nhất với tôi sẽ có những tiêu chuẩn lựa chọn riêng), và nếu hàng Việt đáp ứng yêu cầu của tôi (không cần phải tốt vượt trên hàng ngoại) thì tôi hoàn toàn chọn sài ngay mà không cần phải đắn đo suy nghĩ!

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

Tại sao Hoa Kỳ cần Thỏa ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương?


FOREIGN AFFAIRS
Số Tháng Bảy/ Tháng Tám, 2012
Thương mại gia tăng ở châu Á

Bernard K. Gordon

BERNARD K. GORDON là Giáo sư Danh dự về Khoa học Chính trị tại Đại học NewHampshire. Ông là tác giả của cuốn sách Những Quyết định Điên rồ về Thương mạicủa Hoa Kỳ và một cuốn sách sắp xuất bản về Thỏa ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương.

 Khi vòng đàm phán thương mại toàn cầu Doha trải qua gần 12 năm mà không có dấu hiệukết thúc thì hiển nhiên các cuộc đàm phán đều đã  thất bại. Hoa Kỳ quá thất vọng với tình trạng bế tắc của  Doha và nóng lòng muốn mở rộng các liên minh thương mại và an ninhnên đã ký kết một loạt các thỏa ước thương mại tự do song phương (FTA), cao điểm nhất hồi cuối năm ngoái đã ký với Colombia, Panama và Hàn Quốc. Nói chung, các thỏa thuận này đều thuận lợi cho Hoa Kỳ. Chẳng hạn, thỏa thuận với Hàn Quốc được kỳ vọng sẽ giatăng thương mại giữa hai nước lên hàng tỷ đô la và tạo ra hàng chục ngàn công ăn việc làmcho mỗi quốc gia.
Mặc cho những kết quả này, cách tiếp cận song phương tỏ ra không có nhiều hứa hẹn. Các thỏa thuận năm ngoái đã kết thúc một giai đoạn bế tắc kéo dài năm năm giữa một bên làhầu hết các đảng viên Cộng hòa tại Thượng viện Hoa Kỳ và những người ủng hộ thương mại thuộc cộng đồng kinh doanh và bên kia là các nhà Dân chủ, hầu hết các nghiệp  đoàn,cùng các nhà sản xuất xe hơi Hoa Kỳ. Những người này đã chống lại đặc biệt dữ dội thỏa thuận với Hàn Quốc bởi những hạn chế kéo dài đối với doanh số bán xe ô tô của Hoa Kỳ tại Hàn Quốc.
Sau một quá trình vận động hành lang, tranh cãi và thỏa hiệp đầy khó khăn, chính quyền Obama cuối cùng vẫn còn chút hào hứng để cố gắng đạt được một thỏa thuận songphương khác.
Để thúc đẩy chương trình nghị sự thương mại đạt được thêm tiến bộ thay vì đi theo lối mòn, Nhà Trắng đã chấp nhận một biện pháp trung dung giữa Vòng đàm phán Doha toàn cầu và các FTA song phương: xây dựng quá trình thỏa thuận đa phương dựa trên Thỏa ướcĐối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Với quá trình đàm phán hiện nay với Úc, Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ, và Việt Nam, TPP sẽ trở thành một trong những thỏa thuận thương mại mở rộng lớn nhất thế giới. Và nếu như Canada, Mexico và đặc biệt là Nhật Bản, những nước đã bày tỏ sự quan tâm tham gia các cuộc đàm phánvào cuối tháng Mười Một năm ngoái cũng ký vào thỏa thuận, TPP sẽ đóng góp thêm hàng tỷ Đô la Mỹ cho nền kinh tế Mỹ và củng cố cam kết chính trị, tài chính, và quân sự của Washington đối với Thái Bình Dương trong nhiều thập kỷ tới. Chính quyền Obama tin rằngvới lợi ích tiềm năng như vậy TPP cũng là một cơ hội tốt hơn để vượt qua những trở ngạitrong nước so với một thỏa thuận Doha hoặc các thỏa thuận song phương mới.
Nhưng TPP phải đối mặt với những trở ngại. Những người chỉ trích từ các nước tham gia vào các cuộc đàm phán lo ngại Hoa Kỳ đang cố gắng vận dụng các thỏa thuận thương mạiđể áp đặt các quy định mở rộng về bản quyền và bằng sáng chế lên các đối tác thương mại của mình nhằm bảo vệ các doanh nghiệp và các nhà đổi mới công nghệ Hoa Kỳ. Việc giữ bí mật tương đối xung quanh các cuộc đàm phán TPP đã chỉ làm sâu sắc thêm những lo ngại này. Các nhà đàm phán đã cho phép các bên liên quan từ ngành công nghiệp đến công chúng trình bày ý kiến tại các kỳ họp TPP mở rộng. Tuy nhiên, người ta đã từ chối việc công bố các văn bản của các cuộc đàm phán. Nếu chính quyền Obama không đáp ứng những đòi hỏi về quyền sở hữu trí tuệ và minh bạch hơn các cuộc đàm phán, nhiều khả năng TPP sẽsụp đổ. Sự thất bại này sẽ là một thất bại lớn đối với chính quyền Obama và nó phá hoại mục tiêu của chính quyền hiện nay là đảm bảo sự hiện diện lâu dài cho Hoa Kỳ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
HỨA HẸN THÁI BÌNH DƯƠNG
TPP được cho là tốt hơn các thể loại thỏa thuận thương mại truyền thống. Trước hết, trong thập kỷ tới, TPP sẽ dần dần loại bỏ tất cả các hàng rào thuế quan thương mại giữa các nước thành viên. Tiếp theo sau mô hình FTA giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc, TPP cũng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quan hệ kinh tế giữa các nước thành viên, bao gồm các chính sách đầu tư và thu mua của chính phủ, tiêu chuẩn về môi trường và lao động, nông nghiệp, sở hữu trí tuệ, và các lĩnh vực mới như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa (các doanh nghiệp có lượng lao động từ 50 đến 500 người). Hoa Kỳ và các đối tác hy vọng rằng TPP sẽ trở thành nội dung then chốt của thương mại tự do trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, TPP có thể không đạt được kỳ vọng nếu không có Nhật Bản. GDP của đất nước này nhiều hơn gấp đôi so với tất cả các quốc gia TPP khác cộng lại, không tính Hoa Kỳ. TPP bao gồm cả Nhật Bản có nghĩa chiếm 40% GDP toàn cầu và thêm $ 60 tỷ USD cho thị trường xuất khẩu của Mỹ. Đó là lý do tại sao chính quyền Obama và giới xuất khẩu Hoa Kỳ tuyên bố ủng hộ sự tham gia của Nhật Bản vào TPP khi Tokyo thể hiện sự quan tâm của họ đến TPP. Vào tháng Mười Hai năm ngoái, hơn 60 tổ chức thực phẩm và nông nghiệp Hoa Kỳ đã gửi một tuyên bố chung tới Ron Kirk, đại diện thương mại Hoa Kỳ, và Tom Vilsack, Bộ trưởng nông nghiệp Hoa Kỳ, ủng hộ việc "dọn đường cho sự tham gia đầy đủ của Nhật Bản." Một tuần sau đó, Hội nghị Bàn tròn Kinh doanh (một hiệp hội các Giám đốc điều hành), và Liên minh Doanh nghiệp Hoa Kỳ cho TPP (gồm  các công ty ủng hộ các thỏa thuận thương mại tự do), đã gửi một bức thư tương tự tới Đại diện thương mại Hoa Kỳ. Trong tháng Ba, Wendy Cutler, trợ lý đại diện thương mại Hoa Kỳ, nói với cử tọa tại Tokyo: "viễn cảnh Nhật Bản gia nhập TPP. . . là quan trọng; là bước ngoặt lịch sử. Và nói một cách thẳng thắn điều đó rất hứng khởi."
Chính quyền Obama tính đến khả năng đó, và đã biến TPP thành nền tảng trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ, cũng như hiện đang làm tất cả những gì có thể để hình thành thỏa thuận có lợi cho Hoa Kỳ. Ví dụ, chính sách thương mại nhấn mạnh việc khuyến khích và bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp này thường có ít kinh nghiệm trong việc đối phó với hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu, nhưng Washington hy vọng nâng cao vai trò của chúng trong TPP bởi vì các doanh nghiệp loại này tạo ra phần lớn việc làm cho Hoa Kỳ. Bằng cách giúp đỡ các doanh nghiệp này, chính quyền Hoa Kỳ có thể giành được sự ủng hộ trong nước đối với vấn đề thương mại. Người Hoa Kỳ từ lâu đã không còn quan tâm đến thương mại bởi họ tin nó chủ yếu mang lại lợi ích cho người nước ngoài, lấy đi công ăn việc làm và góp phần vào thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ vốn được xem là một điểm tiêu cực bất kể một thực tế từ lâu là nó gắn liền với  quyền lực thương mại và chính trị của  Hoa Kỳ.
NHỮNG NHẦM LẪN VỀ QUYỀN SỞ HỮU
Ngay cả khi Washington hy vọng những nỗ lực của mình để định hình TPP sẽ xoa dịu những mối quan tâm của các giới công nghiệp và công đoàn của Hoa Kỳ, TPP đã đụng chạm đến các nhóm lợi ích công cộng và chính phủ của các nước khác đang đàm phán thỏa thuận - đặc biệt khi bàn về sở hữu trí tuệ.
Trong tháng Hai năm 2011, một văn bản dự thảo về sở hữu trí tuệ từ các cuộc đàm phán TPP đã bị rò rỉ trên mạng. Một số nhóm của Hoa Kỳ và nước ngoài như nhóm Quan sát Sở hữu Trí tuệ, nhóm Tri thức Công cộng, nhóm Quan sát TPP, và một số cá nhân ẩn danh khác chỉ trích gay gắt một số biện pháp nêu trong tài liệu. Cụ thể, họ lên án đề nghị hình sự hóa luật bản quyền và bằng sáng chế rằng điều đó vi phạm các điều ước quốc tế hiện hành giữa các quốc gia tham gia đàm phán. Những nhóm và cá nhân này cũng khẳng định TPP sẽ yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet xác định danh tính người sử dụng và Hoa Kỳ đang tìm cách áp đặt một cách phi lý các điều khoản bảo vệ bản quyền mở rộng của mình lên các thỏa thuận. Luật pháp Hoa Kỳ quy định đại đa số quyền tác giả kết thúc sau 70 năm, nhưng các nhà chỉ trích ngộ nhận rằng chính quyền Obama đã đề xuất trong TPP một điều khoản bản quyền tối thiểu đến 95 năm đối với một số đăng ký. Các học giả luật như Sean Flynn và Jimmy Koo nắm bắt được sự lo ngại của các nhà chỉ trích và đã viết vào năm 2011: TPP sẽ tạo ra "một công cụ quốc tế về sở hữu trí tuệ cực đoan nhất chống lại người tiêu dùng và chống lại sự phát triển từ trước đến nay."
Chính quyền đã ủng hộ những đề xuất này không phải để gây thiệt hại cho người tiêu dùng mà để bảo vệ các nhà đổi mới công nghệ Hoa Kỳ. Sở hữu trí tuệ đã là một nguồn giá trị chính đối với Hoa Kỳ. Ví dụ, trong năm 2010, 40% thanh toán trên toàn thế giới dành cho sở hữu tài sản trí tuệ - tương đương 100 tỷ Đô la Mỹ - đã vào tay người Mỹ. Theo Bộ Thương mại Hoa Kỳ, giá trị này tương đương với lợi nhuận thu được từ xuất khẩu máy bay, ngũ cốc, và các dịch vụ kinh doanh, ba lĩnh vực giúp cho thương mại của Hoa Kỳ thặng dư. Sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ sẽ trở nên quan trọng hơn trong những năm tới bởi lẽ những ngành đổi mới về công nghệ tại Hoa Kỳ như  kỹ thuật sản xuất thế hệ mới và thông tin liên lạc không dây tiên tiến đang dẫn dắt nền thương mại Hoa Kỳ. Những người sáng tạo công nghệ cũng cần được bảo trợ theo các thỏa thuận TPP không kém hơn những người hiện đang nắm giữ bản quyền và bằng sáng chế theo luật pháp Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ hầu như không còn là quốc gia duy nhất gắn kết với TPP để mang lại lợi ích trong việc đảm bảo bản quyền và bằng sáng chế cho công dân của mình. Ví dụ: trong năm 2008, Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong ứng dụng bằng sáng chế. Tương tự, Singapore đã đầu tư công nghệ sinh học trị giá nhiều tỷ đô la cũng có nhu cầu bảo vệ những nỗ lực của “gà nhà”. Hoa Kỳ cũng đã mở đường cho các quốc gia khác trong nỗ lực bảo vệ một cách đúng đắn quyền sở hữu trí tuệ của các nhà đổi mới công nghệ Hoa Kỳ. Nhưng quả thực vẫn còn một số quốc gia không tin  rằng Hoa Kỳ đếm xỉa đến lợi ích tốt nhất của họ.
CÁC CUỘC THẢO LUẬN TỰ DO
Mặc dù có lợi ích rộng lớn trong vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ với một số các quốc gia đang tham gia đàm phán TPP, một số quốc gia tiếp tục cáo buộc Hoa Kỳ đang có những đòi hỏi bất hợp lý. Ví dụ tại phiên đàm phán TPP thứ 11, tại Úc vào tháng Ba vừa qua, báo chí Úc đưa tin tất cả các thành viên đàm phán TPP đã từ chối đề nghị của Mỹ về quyền sở hữu trí tuệ. Giữa tháng Tư, một số nhà đàm phán từ Chile tỏ ra nghi ngờ về tương lai của thỏa ước khi họ đặt câu hỏi "liệu tham gia vào TPP có đáng giá không nếu phí tổn của nó bao gồm cả những đòi hỏi bổ sung về sở hữu trí tuệ."
Trong khi đó, trong suốt cuộc họp tương tự tại Úc vào tháng Ba, nhiều tổ chức lên án TPP về những tác động tiềm năng của nó đối với sự sẵn có của các loại thuốc giá rẻ. Ví dụ: Tổ chức Bác sĩ Không Biên giới cáo buộc chính phủ Hoa Kỳ chèn thêm các quy định vào TPP nhằm can thiệp việc phân phối các loại thuốc HIV/AIDS và sốt rét giá rẻ đến các quốc gia đang phát triển. Trong suốt vòng đàm phán TPP, nhóm này tuyên bố thỏa ước sẽ mở rộng sự bảo vệ độc quyền các loại thuốc nguyên gốc bằng cách thay đổi nhỏ các công thức hiện có”, do đó nó ngăn cản sự ra đời của các loại thuốc đồng dạng (generic drugs) rẻ hơn.
Chính phủ Hoa Kỳ đã không phản ứng lại tất cả các cáo buộc trong quá trình đàm phánTPP. Tuy nhiên, vào cuối tháng Hai năm ngoái, Demetrios Marantis, Phó Đại diện thương mại Mỹ, cho biết rằng văn phòng của ông "cực lực không đồng ý [s]" với Tổ chức Bác sĩ Không Biên giới. Ông này vạch rõ Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ trước đó sáu tháng đã thiết lập một chương trình TPP bao gồm chín điểm mang tên "Tăng cường Truy cập Thương mại đối với Thuốc bệnh" để đảm bảo  "các loại thuốc đồng dạng có thể xâm nhập vào thị trường một cách nhanh nhất."
Như vậy là Hoa Kỳ đã bắt đầu giải quyết những lo ngại của những người hoài nghi TPP. Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn vẫn còn đó. Trong thời đại của Internet, tin đồn về các điều khoản trong thỏa ước có thể nhanh chóng châm ngòi cho một sự chống đối trên toàn thế giới. Minh bạch hơn và thông tin tốt hơn về quá trình đàm phán có thể giúp đánh bật những tin đồn như vậy. Mặc dù Hoa Kỳ và các đối tác của mình đã  thể hiện sự tiếp thu các yêu cầu của các cá nhân và các nhóm có lợi ích liên quan thì họ cũng đã không hoàn toàn công khai quá trình đàm phán ra công chúng. Điều này càng làm gia tăng sự quan tâm chính đáng về nội dung cuối cùng của thỏa ước. Vào tháng Giêng, Gary Horlick, một luật sư thương mại tiếng tăm và là cựu viên chức thương mại của Hoa Kỳ, đã mô tả quá trình TPP là  "quá đàm phán thương mại kém minh bạch nhất mà tôi từng chứng kiến”. Mặc dù Kirk, đại diện thương mại của Hoa Kỳ, đã gọi các cuộc đàm phán là "quá trình cởi mở, minh bạch nhất từng có," nhóm công tác của ông này lại trình bày rất “kiệm lời” quan điểm của Hoa Kỳ cho công chúng hoặc thậm chí cho cả các bên có lợi ích  không tham gia chính thức vào các thảo luận TPP.
Vấn đề lên đến đỉnh điểm vào tháng Hai năm ngoái khi 23 tổ chức Hoa Kỳ đại diện cho các thư viện của hầu hết các viện nghiên cứu và trường đại học Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Obama "ủy quyền truy cập công cộng" vào các văn bản dự thảo đàm phán. Họ lập luận: các điều khoản của TPP "sẽ đụng chạm đến mọi gia đình Mỹ" và "việc thực thi và tính chất lâu dài của những quy định ràng buộc. . . đòi hỏi sự minh bạch tối đa." Những ngày sau đó, Thượng nghị sĩ Ron Wyden đã đưa ra yêu cầu trên trong một buổi nghe điều trần của Kirk. Đáp lại tuyên bố trên, Kirk nói rằng chính quyền Obama đã "công bố thông tin sớm hơn bất kỳ chính quyền nào trước đây."
Không hài lòng với phản ứng của Kirk, Wyden đề xuất điều khoản luật yêu cầu công bố thông tin của bất kỳ văn bản đàm phán TPP nào "không quá 24 giờ sau khi các tài liệu được chia sẻ với các bên khác." Đề xuất của Wyden đã không thể lôi kéo thêm hậu thuẫn nhưng những tiếng nói đòi hỏi cởi mở hơn trong các cuộc đàm phán TPP vẫn còn nguyên ở Hoa Kỳ và nước ngoài.
MỘT DẠNG THỨC MỚI CỦA LÀM ĂN KINH TẾ
Nếu các cuộc đàm phán về TPP đơm hoa kết trái, Hoa Kỳ sẽ trở nên mạnh mẽ hơn về kinh tế và chính trị trong thế hệ tiếp theo. Một thỏa thuận bao gồm cả Nhật Bản về cơ bản sẽ dẫn đến một thỏa ước thương mại tự do giữa Washington và Tokyo, mở đầu cho công cuộc "mở cửa lần thứ ba" mà Nhật Bản đang kiếm tìm lâu nay và là sự khẳng định sức mạnh của Hoa Kỳ ở khu vực Thái Bình Dương. Nói rộng hơn, Hoa Kỳ hy vọng rằng TPP sẽ củng cố một hệ thống thương mại mở, kết nối với nhau trên nguyên tắc đồng thuận.
Đó là lý do tại sao chính phủ Hoa Kỳ hy vọng sẽ hoàn tất những phác thảo của một thỏa thuận cuối cùng vào cuối năm nay. Nhưng trước tiên chính phủ Hoa Kỳ phải giành chiến thắng trước sự phản đối trong nước đối với TPP, đặc biệt từ các ngành ô tô, bảo hiểm và nông nghiệp. Chính phủ Hoa Kỳ cũng cần thích ứng tối đa với những quan tâm của các nhà chỉ trích trong và ngoài nước đối với các đòi hỏi về sở hữu trí tuệ. Và chính phủ Hoa Kỳ phải đạt được  thêm tiến bộ trong quá trình đàm phán. Nếu chính quyền Obama không thực hiện được những điều này, có thể sẽ bỏ lỡ một cơ hội để mở đường cho một hình thức mới của thỏa ước thương mại và tái khẳng định vai trò kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương.
 Người dịch: Quang Thành



Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012


Chiến lược chống Trung Quốc của Washington


 Dầu mỏ thống trị thế giới. Tạo lập được ưu thế hải quân ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, Mỹ sẽ buộc kinh tế Trung Quốc quỳ gối khi cần thiết.

 
Barack Obama và Julia Gillard đồng tâm hiệp lực kiềm chế Trung Quốc (Reuters)
Không thể xem xét các quá trình đang diễn ra hôm nay ở Trung và Cận Đông, cũng như Đông Phi bên ngoài bối cảnh sự ganh đua Mỹ-Trung. 

Cũng không thể bỏ qua thực tế là chính sách đối ngoại Mỹ là nhằm làm suy yếu Trung Quốc - đối thủ chính của Mỹ trong cuộc đấu giành quyền chi phối thế giới. 
Ta đều biết là Trung Quốc không sở hữu trữ lượng lớn tài nguyên năng lượng trên lãnh thổ của mình nên rất phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ từ bên ngoài. Vịnh Persique đã trở thành thị trường dầu mỏ tiện lợi nhất cho Trung Quốc; ban lãnh đạo Trung Quốc hiển nhiên là hy vọng nó vẫn như thế trong 20-30 năm tới. Ngoài ra, lục địa châu Phi, nhất là các quốc gia vịnh Guinea và Sudan cũng ngày càng quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng của Trung Quốc. 
Các tàu chở dầu mỏ Cận Đông và châu Phi đến Trung Quốc qua Ấn Độ Dương, nơi thực hiện đến 50% khối lượng vận chuyển container trên thế giới và 70% khối lượng vận chuyển sản phẩm dầu mỏ. Đồng thời, nằm ở Ấn Độ Dương là đa số trong 11 khu vực hiểm yếu nhất có nguy cơ làm tắc nghẽn việc cung cấp hydrocarbon trên thế giới: các eo biển Hormuz, Bab al Mandeb và Malacca, eo biển Lombok (Indonesia) nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, kênh đào Suez, tuyến đường vòng xa quanh mũi Hảo Vọng. Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi Ấn Độ Dương đang trở thành một trong những khu vực rủi ro quan trọng nhất, nơi đụng độ lợi ích của các cường quốc khác nhau.
Việc vận chuyển dầu mỏ và hàng hóa bằng đường biển tương đối rẻ cũng như vai trò gia tăng của giao thông đường biển trong nền kinh tế thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa đã làm gia tăng vai trò của Ấn Độ Dương như một khu vực có tầm quan trọng chiến lược. 

Với sự thay đổi tương quan sức mạnh trên thế giới trong thập kỷ 1990, Trung Quốc bắt đầu hoạch định chiến lược (đúng hơn là khái niệm) dài hạn và cực kỳ tham vọng được gọi là “Liên châu” đối với khu vực này. Thuật ngữ “Liên châu” (String of pearls - chuỗi ngọc trai) là do các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược Mỹ (US Strategic Studies Institute) nghĩ ra. Năm 2006, họ công bố báo cáo “Liên châu: giải pháp cho vấn đề sức mạnh gia tăng của Trung Quốc trên bờ biển châu Á”. Trong báo cáo này, các tham vọng của Trung Quốc bảo vệ tuyến đường mà họ xây dựng bị xem là thách thức trực tiếp đối với sự bá quyền của Mỹ trong khu vực. 
Yếu tố năng lượng đã đóng vai trò then chốt trong việc Trung Quốc xây dựng chiến lược “Liên châu”. Hơn 85% dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ được vận chuyển tới Trung Quốc từ vịnh Persique và châu Phi qua Ấn Độ Dương đi qua eo biển hẹp Malacca thường xuyên bị hải tặc tấn công. Nhận thấy sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung dầu mỏ từ bên ngoài, Bắc Kinh đang cố bảo vệ mình trước bất kỳ mưu toan nào cắt đứt các tuyến đường cung cấp năng lượng. Bản chất của chiến lược “Liên châu” là thiết lập các điểm tựa của Trung Quốc dưới dạng các căn cứ hải quâ và không quân hay các hải cảng “thân hữu” trải dài từ đảo Hải Nam của Trung Quốc đến cảng Gwadar của Pakistan và dùng để bảo đảm an toàn cho việc cung cấp dầu mỏ đến Trung Quốc. 
Chiến lược của Obama 
Tháng 11/2011-tháng 1/2012, Barack Obama đã công bố hàng loạt nội dung thú vị trong chính sách Đông Á của mình. Tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ thực hiện chuyến thăm các nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương và tham gia hội nghị của ASEAN và Thượng đỉnh Đông Á EAS. Chủ đề quan trọng của các cuộc đàm phán là thảo luận tình hình xung quanh các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông. Như ta đã biết, hiện có nhiều nước như Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền đối với thềm lục địa của quần đảo Trường Sa giàu khoáng sản.
Ngay trước Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ở Indonesia, Barack Obama đã ký với Thủ tướng Australia Julia Gillard hiệp định triển khai quân đội Mỹ tại căn cứ quân sự Darwin. Vào năm 2012, tại căn cứ nằm ở Các lãnh thổ phía bắc (một đơn vị hành chính của Australia), sẽ triển khai 200-250 lính thủy đánh bộ, cũng như các tàu của hài quân Mỹ và máy bay. Còn đến năm 2016, căn cứ Darwin sẽ tiếp nhận 2.500 lĩnh Mỹ và “một số lượng nào đó các binh đoàn hải quân và không quân”, mà con số cụ thể thì công chúng hiện chưa biết gì cả. Hoàn toàn có thể là một phần trong đội quân Mỹ 100.000 người ở châu Phi trong tương lai sẽ được chuyển tới căn cứ Darwin. 
Phát biểu tại nghị viện Australia, Barack Obama tuyên bố: “Với tư cách tổng thống, tôi đã đưa ra một quyết định chiến lược được suy tính kỹ. Mỹ là một quốc gia Thái Bình Dương nên chúng tôi sẽ đóng vai trò quan trọng hơn và lâu dài trong việc định hình khu vực này. Chúng tôi sẽ duy trì khả năng tung sức mạnh quân sự độc nhất vô nhị và răn đe các mối đe dọa vì hòa bình của chúng tôi. Mỹ là một thế lực Thái Bình Dương, và chúng tôi đã đến châu Á để ở lại đây”, và nói thêm rằng, “Mỹ không sợ Trung Quốc, quốc gia lớn mạnh nhất trong khu vực”. 
Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ là Ben Rhodes giải thích các phát biểu của Barack Obama: “Hiệp định quân sự về việc triển khai đạo quân Mỹ ở Australia – đó là tín hiệu cho thấy, chúng tôi dự định tiếp tục đóng vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh ở phần này của khu vực, nơi sức mạnh quân sự Trung Quốc đang gia tăng”. Có lẽ việc Lầu Năm góc thành lập cơ quan quân sự mới là Air See Battle Command (Bộ chỉ huy Tác chiến không-hải) mà một trong các nhiệm vụ được công bố chính thức là chuẩn bị toàn diện cho Hải quân, Không quân và Thủy quân lục chiến  Mỹ cho nhiệm vụ vô hiệu hóa một quốc gia X. Do trong danh sách các mối đe dọa tiềm tàng Air See Battle Command có nêu ra các chiến hạm, tàu ngầm, máy bay, tên lửa chống hạm và vệ tinh do thám Trung Quốc, nên chẳng khó khăn gì để đoán ra quốc gia X mà các nhà hoạch định chương trình cho Air See Battle Command định đánh nhau là Trung Quốc. 
Những câu hỏi về lý do lập căn cứ quân sự mới của Mỹ ở Australia vẫn nhiều hơn những câu trả lời. Trước hết là những mục tiêu thực sự của việc chính phủ Mỹ quân sự hóa khu vực này lần đầu tiên sau chiến tranh Việt Nam là gì và một căn cứ quân sự mới trên lãnh thổ một trong những quốc gia hòa bình nhất khu vực để làm gì? Viên tướng không quân Mỹ phụ trác hoạch định chiến lược của các lực lượng quân ự Mỹ ở Thái Bình Dương Michael Keltz tình cờ hé lộ rằng, các tiêm kích F-22, máy bay vận tải C-17, cũng như máy bay ném bom chiến lược sẽ được triển khai ở Australia.
Vì thế, nghe ra rất nước đôi là những lời nói của Tổng thống Mỹ đương nhiệm rằng, “chúng tôi đã kết thúc tất cả các cuộc chiến, và vì thế tôi giao phó cho đội chuyên gia an ninh quốc gia của mình nhiệm vụ bảo đảm sự hiện diện ở châu Á-Thái Bình Dương với tư cách nhiệm vụ ưu tiên”. 
Ngoại trường Mỹ Hillary Clinton trên tạp chí Foreign Policy đã viết rằng, hiện tại, một nước Mỹ suy yếu về kinh tế không thể cho phép mình là cường quốc chi phối đồng thời ở mấy khu vực trên thế giới. Bởi vậy, có thể dự đoán rằng, các nỗ lực đối ngoại của Mỹ sẽ chủ yếu nhằm vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chưa rõ những nước nào ở châu Á-Thái Bình Dương giao cho Mỹ sứ mệnh “đóng vai trò đáng kể và lâu dài trong việc định hình tương lai” của khu vực này. 

Chính sách mà Mỹ toan tính thực thi ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ khiến lãnh đạo Trung Quốc cực kỳ lo ngại bởi vì một căn cứ quân sự  ở Australia sẽ khóa kín vành đai các căn cứ quân sự Mỹ bao quanh Trung Quốc và tạo ra cho Washington khả năng kiểm soát các tuyến đường giao thương đường biển trọng yếu nhất mà qua đó một lượng hàng hóa có tổng trị giá 5.000 tỷ USD được vận chuyển hàng năm. 

Người Mỹ đang sẵn sàng bổ sung thêm thành tố kinh tế cho khía cạnh quân sự trong chính sách Đông Á của họ. Theo Аssociated Press, trong Hội nghị Thượng đỉnh APEC diễn ra ở Hawaii vào năm 2011, Obama đã tuyên bố rằng, Mỹ đang xem xét ý tưởng lập tổ chức thương mại khu vực mới không có sự tham gia của Trung Quốc. Như vậy, giới tinh hoa chính trị Mỹ chắc chắn dự định đối phó một cách tổng hợp với Trung Quốc. Bao vây xung quanh Trung Quốc bằng “các liên minh quốc phòng” với các quốc gia khác ở khu vực (ngoài Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines, còn có các liên minh với Việt Nam, Myanmar và Singapore), Washington trong khuôn khổ “học thuyết kiềm chế” của họ còn muốn dựng lên các rào cản kinh tế đối với Bắc Kinh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. 

Theo tác giả của cuốn sách “Máu và dầu mỏ” của Giáo sư Trường Hampshire College Michael Klare, ý nghĩa của chiến lược mới của Obama là rất rõ ràng: “Từ nay, nội dung chính của chiến lược quân sự Mỹ sẽ không phải là đối phó với chủ nghĩa khủng bố mà kiềm chế một quốc gia đang phát triển bùng nổ về kinh tế bất kể rủi ro và cái giá của vấn đề”. Ở ý nghĩa này, căn cứ quân sự Mỹ ở Australia có thể xem như một trong những bộ phận của vành đai cách ly mà Mỹ muốn dùng để khóa chặt Trung Quốc, ngăn Trung Quốc tiếp cận đại dương thế giới và kiể soát các tuyến đường biển cung cấp dầu mỏ và khí hóa lỏng cho Trung Quốc.

Sự đối kháng vũ trang, trong bối cảnh đó, không phải là mục tiêu cuối cùng và bất biến. Bằng cách mở rộng tiềm lực quân sự của mình trong khu vực, Mỹ sẽ kích động Trung Quốc có những hành động đáp trả đối xứng và gia tăng hơn nữa chi phí cho quân bị. Như vậy, mục đích chính của “chính sách kiềm chế” này là gây áp lực và bằng cách đó làm suy yếu Trung Quốc về mặt kinh tế bằng cách buộc Trung Quốc chi những khoản tiền khổng lồ cho quốc phòng, chứ không phải cho bành trường sản xuất-thương mại.

Những rủi ro trên các tuyến đường biển 

Việc tiếp cận các nguồn năng lượng, hệ thống tuần hoàn của nền kinh tế thế giới, đang mỗi năm một khó khăn hơn đối với các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Hiện nay, người ta đã hiểu rằng, dầu mỏ và khí đốt giá rẻ trong tương lai gần chắc chắn sẽ không có. Trong khi đó, Mỹ trong các thập niên gần đây tiêu thụ đến 40% toàn bộ tài nguyên thiên nhiên của trái đất, trong khi các nhu cầu của các nước như Trung Quốc và Ấn Độ thì liên tục tăng. 

Đã xuất hiện một xu hướng rõ ràng là các nước đang phát triển, nơi tập trung các trữ lượng chủ yếu tài nguyên năng lượng của thế giới đang tiến hành quốc hữu hóa các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình để có được nguồn thu cao hơn cho ngân sách quốc gia. 

Trong giới phân tích phương Tây xác lập quan điểm cho rằng, nếu như một cuộc xung đột vũ trang sẽ xảy ra lúc nào đó giữa Mỹ và Trung Quốc thì chỉ là vì chuyện chia chác các nguồn tài nguyên năng lượng đang tan biến từng ngày. 

Rõ ràng là trong những năm tới, chuyện đó khó lòng xảy ra, tuy nhiên cuộc đấu tranh ngầm để giành giật các mỏ dầu khí sẽ diễn ra không ngừng. Theo dự báo, vào năm 2020, Trung Quốc sẽ tiêu thụ tới 13,6 triệu thùng dầu/ngày và đến 16,9 triệu thùng dầu/ngày vào năm 2035, khi nhu cầu dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc sẽ là 11,6 triệu thùng. Vì thế, sự cạnh tranh giành dầu mỏ giữa các nước tiêu thụ chủ yếu trong tương lai sẽ gia tăng nhiều lần.

Nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc từ Cận Đông, châu Phi và Mỹ Latinh sẽ tăng mạnh, còn các rủi ro chủ yếu sẽ tiềm ẩn trên các tuyến đường biển dài lê thê. Như Michael Klare viết trên tạp chí European Energy Review, 
“Bằng cách tạo lập cho mình ưu thế hải quân ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, chính quyền Obama rõ ràng nhắm tới việc giành lấy công cụ năng lượng trong thế kỷ XXI có giá trị tương đương cái gọi là hăm dọa hạt nhân trong thế kỷ XX. Chỉ cần các vị đụng chạm đến lợi ích của chúng tôi là chúng tôi sẽ buộc nền kinh tế của các vị phải quỳ gối bằng cách chặn đứng dòng chảy của nhiên liệu có tầm quan trọng sống còn”, chuyên gia Mỹ này đánh giá ý nghĩa của chính sách mới của Obama như vậy. 

Đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển dầu mỏ tới Trung Quốc là Yemern, vốn là một khu vực chiến lược trọng yếu tiếp giáp với vịnh Persiquae và bán đảo Arab. Các quan chức Trung Quốc gần đây có nói về sự cần thiết thiết lập các căn cứ hải quân tại khu vực quan trọng này đối với họ. Tuy nhiên, việc gây mất ổn định ở Yemen và sự dính líu của Mỹ vào cuộc xung đột Yemen đã ngăn chặn các ý đồ của Trung Quốc. Quốc gia duy nhất trong khu vực mà ở đó Trung Quốc có thể xây dựng căn cứ hải quân là Iran bởi lẽ ở tất cả các quốc gia đáng quan tâm còn lại đều có sự hiện diện quân sự của các cường quốc phương Tây. Căn cứ tình hình chính trị rối ren ở Kenya và Somalia, có thể phỏng đoán rằng, khoảng chân không tại một không gian hoàn toàn không bị phân chia dọc theo bờ Tây Ấn Độ Dương sắp tới có thể bị lấp đầy bởi các đạo quân hạn chế của NATO.

Theo các chuyên gia quân sự Mỹ, mục tiêu chính của Obama sẽ là thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài ở Yemen. Chính sách này sẽ đáp ứng hàng hoạt nhiệm vụ mà quan trọng nhất trong số đó sẽ là giành quyền kiểm soát tuyệt đối đối với cảng Aden ở Yemen vốn thường được mệnh danh là “cánh cửa mở sang châu Á”. 
Kiểm soát được Aden và eo biển Malacca sẽ đặt Mỹ vào vị thế vô song trong “ván cờ lớn” ở Ấn Độ Dương. Bằng cách đặt các tuyến đường biển ở Ấn Độ Dương dưới quyền kiểm soát của mình, Washington sẽ kiềm chế được sự gia tăng sức mạnh kinh tế của Trung Quốc. Bởi vậy, Mỹ chọn chỗ dựa là Ấn Độ, quốc gia đang tìm cách hạn chế các tham vọng của Trung Quốc và bảo vệ lợi ích của họ ở khu vực Ấn Độ Dương.

Trong khi đó, sự hoành hành của hải tặc tại vịnh Aden và Ấn Độ Dương đang trở thành một thứ công cụ để tác động đến an ninh năng lượng của Trung Quốc. Các cuộc tấn công cướp biển nhằm vào các thương thuyền vẫn diễn ra không ngừng và theo một số nguồn tin, những kẻ bị gọi là hải tặc Somalia đang nhận được thông tin từ các hãng bảo hiểm hàng hải Anh, còn tàu bè, thiết bị và vũ khí chúng nhận được từ Mỹ. 

Khi một số nước đề nghị tăng cường đấu tranh chống cướp biển thì Mỹ và Anh thường phong tỏa các sáng kiến đó ở Liên Hiệp Quốc vì các lý do “nhân đạo”. Như vậy, những quốc gia chủ yếu và về thực chất là duy nhất chống lại việc thông qua các quy tắc luật pháp quốc tế nhằm chống hải tặc lại là Washington và London. Điều đó khiến người ta nghĩ đến chuyện lãnh đạo Mỹ và Anh muốn sự tồn tại và phát đạt của cướp biển. 

Những mất mát đau đớn của Trung Quốc ở châu Phi 

Trong chuỗi các cuộc cách mạng ở thế giới Arab, Libya chiếm một vị trí đặc biệt. Chính ở đó vào năm 2011, liên minh phương Tây đã  giáng một đòn chí mạng vào các lợi ích của Trung Quốc ở châu Phi. Theo bình luận của Paul Craig Roberts, nhân vật đảng Cộng hòa, cựu thứ trưởng tài chính Mỹ dưới thời Ronald Reagan, đăng trên tạp chí Mỹ Foreign Policy, “Trung Quốc đã thực hiện những dự án đầu tư năng lượng quy mô lớn tại miền Đông Libya và trông cậy vào nó, cùng với Angola và Nigeria, về mặt nhu cầu năng lượng của mình”. Vì vậy, theo ông này, cuộc chiến ở Libya là “nỗ lực của Mỹ ngăn chặn cung cấp tài nguyên cho Trung Quốc”. Thực vậy, vào đầu năm 2011, đã có 75 công ty lớn của Trung Quốc hoạt động ở Libya và ký kết các hợp đồng tổng giá trị 18 tỷ USD. Do chiến dịch quân sự của NATO ở Libya, Trung Quốc đã buộc phải đình chỉ 50 dự án lớn đang tiến hành tại quốc gia Bắc Phi này và sơ tán 30.000 chuyên gia Trung Quốc đang làm việc chủ yếu trong khu vực dầu mỏ ở miền Đông Libya. Kết quả là Trung Quốc mất toi những khoản tiền khổng lồ đã đầu tư vào nền kinh tế Libya.

Trong các điện tín ngoại giao Mỹ mà WikiLeaks tiết lộ, các nhà ngoại giao Mỹ đã ghi nhận “sự bùng nổ quan tâm đến Libya từ phía các công ty dầu mỏ quốc tế không phải của phương Tây (trong đó có các công ty của Ấn Độ, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc), các công ty này gần đây đã nhận được nhiều hợp đồng nhượng quyền từ Công ty Dầu mỏ quốc gia Libya”. Các công ty này đã có khả năng tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ với các công ty dầu khổng lồ của Mỹ và Tây Âu. Ngay trước khi bùng nổ chiến sự do Liên minh Bắc Đại Tây Dương phát động ở Libya, trong số 10 công ty dầu nước ngoài đang khai thác dầu mỏ ở nước này giữ vị trí dẫn đầu là công ty CNPC của Trung Quốc. Vì vậy, 
nhiệm vụ của chiến dịch Libya là chặn đứng xu hướng nguy hiểm của việc Libya chuyển hướng từ các công ty dầu mỏ Mỹ và châu Âu sang các công ty châu Á và trước hết là đánh vào lợi ích của Trung Quốc, điểm đến của tới 11% tổng khối lượng dầu mỏ Libya. Mỗi năm, con số này hiển nhiên sẽ chỉ có tăng. Ngoài ra, vào tháng 1/2009, Gaddafi đã dại dột đe dọa quốc hữu hóa toàn bộ ngành dầu mỏ và khí đốt, còn trước đó thì ông đã buộc các hãng dầu khí phương Tây hoạt động ở Libya ký lại các hợp đồng của mình với chính phủ Libya theo những điều kiện bất lợi cho các công ty xuyên quốc gia. Việc đe dọa bắt buộc ký lại các hợp đồng, theo các nhà ngoại giao Mỹ, đã tạo ra một tiền lệ quốc tế nguy hiểm, “có thể lặp lại nhiều lần trên toàn thế giới ở các nước sản xuất dầu”. Bởi vậy, cần phải trừng trị Gaddafi, kẻ dám khuấy động sự bình yên.




 
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào dẫn đầu các nguyên thủ các nước thành viên APEC (Reuters)
Trong một thời gian dài, một số chuyên gia đã cố chứng minh cho chúng ta rằng, cuộc xâm lược của nước ngoài vào Libya không hề liên quan đến các lợi ích dầu mỏ của các cường quốc phương Tây, mà chỉ liên quan đến mong muốn cực đoan của NATO giúp đỡ nhân dân Libya có được nền dân chủ hằng mong muốn. 
Nhưng từ tháng 1/2012, vô số các nguồn thông tin từ các nước khác nhau trên thế giới bắt đầu đưa tin việc đội quân Mỹ đổ bộ vào Libya. Nguồn đầu tiên đưa ra những tin tức này rõ ràng là tờ báo quốc tế tiếng Arab lâu đời nhất Asharq Al-Awsat, hoạt động ở London từ năm 1978. Ngoài ra, hàng loạt báo chí và hãng tin khác cũng đã xác nhận thông tin này. 
Thực chất là có 12.000 lính NATO đã đổ bộ xuống gần thành phố Marsa el Brega với chiêu bài “cần hỗ trợ ổn định trong khu vực và bảo đảm an ninh cho dân thường”. Theo các site của Israel, lính thủy đánh bộ Mỹ đã được điều động từ Malta để bảo đảm nguồn cung liên tục dầu mỏ Libya ra thị trường thế giới với giá hạ.
Ai cũng biết rằng, Marsa el Brega là một trong những bộ phận trọng yếu nhất của hạ tầng dầu mỏ Libya, nằm ở đây có các cơ sở lọc dầu và bơm dầu, một nhà máy khí hóa lỏng. Tại Brega còn có một trong hai cảng xuất khẩu dầu mỏ Libya. Nhà máy thứ hai đặt tại thành phố Ras Lanuf nằm cách Marsa el Brega khoảng 70 km. Bởi vậy, việc đặc nhiệm Mỹ đổ bộ rõ ràng là vì muốn chiếm giữ và kiểm soát các cơ sở then chốt của hạ tầng dầu mỏ Libya, cũng như nhằm bảo đảm việc cung cấp không gián đoạn hydrocarbon cho các đồng minh châu Âu. 
Đáng chú ý là việc chiếm giữ các cảng xuất khẩu dầu mỏ của Libya trùng về thời gian với việc EU thông qua các biện pháp trừng phạt kinh tế chống Iran và châu Âu tự nguyện từ bỏ dầu mỏ của Iran. Bởi vậy, các nhà lãnh đạo châu Âu nay chắc chắn phải muốn thu xếp nguồn cung dầu mỏ Libya để giảm thiểu tối đa các hậu quả tiêu cực của việc cấm vận mua bán dầu mỏ của Iran đối với kinh tế châu Âu. Nhiệm vụ tung dầu mỏ giá rẻ ra thị trường năng lượng thế giới như vậy xem ra không phải là bất khả thi. Điều tương tự đã có thể thấy ở Iraq sau khi Mỹ chiếm đóng nước này vào năm 2003, khi chính quyền mới ở Iraq dưới sự giám sát chặt chẽ của quân đội Mỹ đã bảo đảm cung cấp các nguồn năng lượng với giá tượng trưng cho “những người giải phóng” mình (Mỹ).
Tình hình ở Nigeria, quốc gia đứng thứ 7 thế giới về khai thác dầu mỏ và chiếm 1/2 tổng trữ lượng khí đốt của châu Phi, cũng căng thẳng đột biến. Nigeria ngày nay là một trong những nhà sản xuất dầu thô nhẹ, có hàm lượng lưu huỳnh thấp, tức là loại dầu thô có chất lượng rất cao mà Libya đang sản xuất và cũng đang được khai thác ở Biển Bắc với trữ lượng đang cạn kiệt. 

Ngoài ra, Nigeria còn là một trong những nhà cung cấp năng lượng chủ chốt cho Trung Quốc. Hợp tác giữa Nigeria với Trung Quốc trong những năm gần đây phát triển với tốc độ chưa từng thấy: theo tính toán khiêm tốn nhất, Trung Quốc đã đầu tư vào Nigeria trên 12 tỷ USD. Tháng 5/2010, ban lãnh đạo Trung Quốc đã ký một hợp đồng khổng lồ trị giá 28,5 tỷ USD với chính phủ Nigeria để xây dựng 3 nhà máy lọc dầu mới. Đây là hợp đồng lớn nhất mà Trung Quốc từng ký ở châu Phi. Các công ty Trung Quốc cũng tham gia vào các cuộc đấu thầu. Ví dụ, tháng 7/2010, Công ty dầu mỏ quốc gia Trung Quốc CNPC đã thắng thầu 4 lô dự kiến có dầu, 2 ở đồng bằng sông Niger và 2 ở ranh giới với lưu vực Chad. 

Việc Nigeria chuyển hướng sang Trung Quốc không thể không làm cho Mỹ và EU lo ngại khi họ đang mất dần chỗ đứng trên thị trường dầu mỏ của quốc gia châu Phi này mà trước đây là lãnh đại của các công ty xuyên quốc gia Anh-Mỹ. Trong những năm gần đây, nhận được hợp đồng thăm dò các khu vực dầu khí tiềm năng nhất không phải là các công ty phương Tây mà là các công ty Trung Quốc.

Yếu tố khủng bố 
Tuy nhiên, tình hình chính trị ở Nigeria đầy bất ổn. Ngoài cuộc khủng hoảng kinh tế mà quốc gia Phi châu này đang chịu đựng, còn có thêm sự căng thẳng sắc tộc và tôn giáo. Nigeria là quốc gia của 250 bộ lạc, được chia gần như thành 2 cộng đồng Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. 12 bang miền Bắc Nigeria, nơi các phần tử Hồi giáo đã bám rễ vững chắc từ lâu, sống theo luật Hồi giáo Shariat. Năm ngoái, các phần tử Hồi giáo Nigeria đã đẩy mạnh hoạt động khủng bố. Ví dụ, sát cuối tháng 12/2011, ở Nigeria đã xảy ra hàng loạt vụ khủng bố chống người Thiên Chúa giáo. Trước đó, các phần tử Hồi giáo cực đoan đã tấn công các trạm kiểm soát của quân chính phủ. Trong năm nay, các cuộc tấn công khủng bố vẫn tiếp diễn. 
Ngày 3/1/2012, người Thiên Chúa giáo sinh sống ở các bang miền Bắc Nigeria theo luật Shariat bị ra tối hậu thư yêu cầu lập tức rời miền Bắc nước này. Đưa ra tối hậu thư là tổ chức khủng bố Boko Haram, tổ chức đã nhận trách nhiệm về các cuộc khủng bố vào tháng 12/2011. Boko Haram đã gần 10 năm nay liên tục tiến hành các vụ khủng bố và tấn công người Thiên Chúa giáo và các công dân Nigeria không muốn sống theo luật Shariat.
Boko Haram thường được gọi là “Taliban châu Phi” hay “Taliban đen”. Năm 2004, tổ chức này đã lập căn cứ ở bang Yobe, Nigeria, nơi họ gọi một cách hình tượng là “Afghanistan”. Không có gì ngạc nhiên trong việc lựa chọn cái tên đó bởi vì Boko Haram duy trì quan hệ chặt chẽ với Al Qaeda và phong trào Taliban ở Afghanistan và được các tổ chức này năm 2010 hứa hẹn hậu thuẫn cho “những người anh em” ở Nigeria, có nghĩa là trong trường hợp tình hình căng thẳng ở Nigeria, các phần tử Taliban có thể ra tay giúp đỡ các phần tử khủng bố của Boko Haram.
Ngoài ra, ở Nigeria còn tồn tại các băng cướp chuyên nghiệp thường xuyên tấn công các tuyến đường ống dẫn dầu. Ví dụ, các tay súng của Phong trào giải phóng đồng bằng sống Niger thường xuyên tập kích các cơ sở dầu mỏ để đòi chính phủ chia sẽ nguồn thu dầu mỏ với dân chúng các tính ở lưu vực sông Niger. Bằng các cuộc tấn công cướp bóc, các băng cướp địa phương này phong tỏa hoạt động của các công ty dầu mỏ nước ngoài và điều kỳ lạ là mục tiêu mà chúng thường tấn công nhất chính là các công ty Trung Quốc hoạt động ở Nigeria.
Một đòn nặng giáng vào lợi ích của Trung Quốc diễn ra vào năm ngoái là việc công nhận độc lập của Nam Sudan, một quốc gia mới thành lập, nhưng sở hữu trữ lượng dầu mỏ lớn vì thế là mối quan tâm đối với Trung Quốc. Mỹ hoàn toàn có cơ sở để coi Nam Sudan, quốc gia vừa tuyên bố độc lập vào tháng 7/2011, là một trong những đồng minh chủ chốt của mình ở châu Phi: chính phủ Mỹ trong mấy thập kỷ đã vấn động cho việc thành lập nhà nước Nam Sudan có chủ quyền và ủng hộ những người muốn ly khai khỏi Khartoum. Bởi vậy, chính quyền Juba (thủ đô Cộng hòa Nam Sudan) nhìn nhận một cách logic rằng, Washington là đồng minh chiến lược chủ yếu của họ và sẵn sàng cung cấp lãnh thổ của mình để lập căn cứ quân sự có thể là lớn nhất của Mỹ ở châu Phi. 

Ngoài ra, các tập đoàn Mỹ đang xây dựng một dự án tham vọng xây dựng các tuyến đường ống dẫn dầu từ Nam Sudan đến bờ biển Đại Tây Dương của châu Phi, đến Cameroon, từ đó dầu mỏ sẽ có thể được chở bằng các tàu chờ dầu đến Mỹ. Bởi vì giá thành khai thác dầu ở Đông Bắc Phi thuộc loại thấp nhất thế giới nên Mỹ sẽ có thể nhận qua tuyến đường ống xuyên Phi (Nam Sudan - Cộng hòa Trung Phi - Cameroon) dầu mỏ giá rẻ nhất thế giới và theo tuyến đường ngắn nhất. Nằm ở Nam Sudan là các mỏ dầu chính của quốc gia một thời thống nhất Sudan. Hiện nay, tuyến đường ống dẫn dầu duy nhất tồn tại chạy từ miền nam lên miền bắc, đến Port Sudan, từ đó các tàu chở dầu vận chuyển dầu mỏ đến châu Á, trước hết là đến Trung Quốc. Nhưng nếu như ra đời “tuyến Cameroon” thay thế thì Trung Quốc có thể không còn dầu mỏ Sudan. Có lẽ, để đạt mục tiêu đó, Tổng thống Mỹ Barack Obama vào tháng 10/2011 đã quyết định phái quân Mỹ đến Uganda với cớ công khai là tham gia chống các phần tử cực đoan trong khu vực. Tuy nhiên, theo một số nhà phân tích, mục tiêu ngầm của Mỹ trong chiến dịch ở Trung Phi là “làm sạch mặt bằng” các khu vực lãnh thổ đang kiểm soát cho các tuyến đường ống dẫn dầu mới. Barack Obama đang cố gắng bảo đảm an toàn cho các tuyến đường xuất khẩu dầu mỏ bằng cách thiết lập trật tự trên các vùng lãnh thổ mà các tuyến đường ống từ Nam Sudan có tầm quan trọng chiến lược đối với Washington sắp tới có thể chạy qua.

 
Mỹ đang dùng mọi biện pháp để phá chiến lược Liên châu, kiềm chế Trung Quốc, bất kể là chính trị, kinh tế, quân sự, kể cả chiến tranh, đảo chính, nội chiến, khủng bố, hải tặc...

Một thất bại nặng nề của Trung Quốc là dự án bất thành xây dựng tuyến đường ống dẫn dầu Sudan - Libya - tuyến đường ống dẫn dầu xuyên Phi đầu tiên không nằm dưới sự kiểm soát của các cường quốc phương Tây, mà theo kế hoạch là được thực hiện vào năm 2011. Tuyến đường ống dẫn dầu này lẽ ra sẽ nối Biển Đỏ với Địa Trung Hải và chạy theo tuyến Port Sudan - Khartoum - Fezzan - Benghazi. Việc mở tuyến đường ống dẫn dầu này có thể chuyển hướng cung cấp dầu mỏ Libya từ EU sang Trung Quốc, quốc gia đang bảo trợ cho chính quyền Sudan hiện nay. Tuy nhiên, các sự kiện đã biết ở Libya chỉ trong chớp mắt đã xóa sạch các kế hoạch này của Bắc Kinh. 

Như vậy, sự đối đầu Mỹ-Trung ở châu Phi và Cận Đông vẫn đang tiếp diễn và c
hiều kích quan trọng của nó đang là yếu tố năng lượng và các vấn đề an toàn vận chuyển tài nguyên năng lượng. Hiện thời, về mặt này, Mỹ đang thắng thế khi chậm rãi đẩy bật các công ty Trung Quốc khỏi các khu vực có dầu mỏ. 

Có vẻ như trong những năm tới, cuộc tranh đấu này sẽ tiếp diễn cả ở những nước giàu tài nguyên thiên nhiên khác. Ngoài ra, đang được bổ sung cho cuộc tranh giành tài nguyên năng lượng là các chiều kích quân sự và kinh tế. Mỹ đang cố gắng kiềm chế Trung Quốc bằng cách gây áp lực quân sự nhất định đối với Trung Quốc và dựng lên “các khối quân sự” với nước châu Á. Nhiệm vụ của Mỹ là rõ ràng: Washington cần cô lập hoàn toàn Trung Quốc bằng cách lợi dụng nỗi sợ hãi của các quốc gia láng giềng của Trung Quốc xuất hiện trước hết do sức mạnh kinh tế của con rồng đang lên Trung Quốc.

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Giải pháp Việt nam


Giải pháp Việt nam

Robert D. Kaplan, The Atlantic Magazine

Ấn tượng về Hà Nội quả là đáng suy nghĩ. Những gì thủ đô của Việt Nam bắt chợt trong một khung ảnh tĩnh lặng tự thân là một quá trình diễn biến lịch sử — không gần như có vẻ là định mệnh, được định đoạt bởi địa lý theo nhịp trống dồn của những triều đại và những cướp bóc nhưng như thể là một sự tổng hợp của những hành động quả cảm cá nhân và những toan tính nát óc. Ở Nhà bảo tàng Lịch sử của thành phố, những bản đồ, sa bàn, những bia xám khổng lồ tưởng nhớ những cuộc kháng chiến của người Việt chống lại các đế quốc Tống, Minh, và Thanh vào thế kỷ thứ 11, 15, và 18. Cho dù Việt Nam đã từng bị sát nhập vào Trung Quốc cho đến thế kỷ thứ 10, bản sắc chính trị của nó riêng rẽ so với Trung Quốc kể từ đó là điều thần kỳ - một thứ mà không một lý thuyết nào của quá khứ có thể giải thích thỏa đáng.

Tất nhiên là sự huyền thoại lịch sử của Việt Nam có phần nhấn mạnh về điều đó. Sự thâm trầm và hỗn loạn của Đền Ngọc Sơn (tưởng niệm việc đánh bại nhà Nguyên vào thế kỷ thứ 13), bộ mặt tượng Phật bằng đồng được bao phủ bởi nhang, vàng lá, và gỗ đỏ và được bao quanh bởi Hồ Hoàn Kiếm xanh như súp đậu và bờ hồ rợp bóng cây, tạo thành sự chuẩn bị tinh thần cho một lăng tẩm khắc khổ hơn của Hồ Chí Minh. Hồ, một trong những người đàn ông vĩ đại nhỏ bé của thế kỷ 20, đã hòa trộn chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Khổng, và chủ nghĩa quốc tế thành một vũ khí chống người Trung Quốc, người Pháp, và người Mỹ, đặt nền móng cho những cuộc kháng chiến chống lại ba đế quốc của thế giới. 

Lăng của ông ta mang dáng dấp của những tòa nhà Châu Âu cổ xưa hàng thế kỷ và những nhà thờ mà chúng từng là trung tâm đầu não của Đông Dương — một hệ thống không chắc chắn mà Paris ngoan cố kéo dài sau Thế chiến Thứ Hai, buộc phải giao tranh với người Việt để dẫn đến sự thảm bại nhục nhã ở Trận chiến Điện Biên Phủ 1954.

Ngoài những công trình xây dựng này thì còn có những vật lộn hùng tráng mới nhất của thành phố đối với số mệnh: khu thương mại sầm uất và sôi động với hàng đoàn xe gắn máy — người lái xe gởi tin nhắn trên cellphone khi bị kẹt xe — và những mặt tiền mới nhất lấn át những cửa hàng to lớn lộn xộn và nhếch nhác. Đây là trước khi có cửa hàng loạt của chủ nghĩa tư bản với quán cà phê khắp nơi, mỗi quán là một phong cách và thiết kế khác nhau, có cà phê có lẽ ngon nhất thế giới và không có bảng hiệu của Starbuck. Cho dù có bề dày lịch sử, Hà Nội không phải là viện bảo tàng ngoài trời như những thành phố tuyệt vời của Châu Âu. Nó vẫn đang lọng cọng trong quá trình tiến đến chuyện đó — gần giống như sự hỗn loạn nhếch nhác của Ấn Độ hơn là sự sạch sẽ đến lạ lùng của Singapore.

Người Việt Nam đang dò dẫm vào thế giới những nước phát triển — vì lợi ích của chính họ và gia đình của họ, rõ là vậy, thế nhưng họ cũng bảo vệ sự độc lập của họ đối với một Trung Quốc năng động tương đương như vậy. Và nó đã từng như thế từ thời cổ đại. Hà Nội luôn là một thành phố của những toan tính chính trị căng thẳng, cái giá phải trả cho ở vị thế một cường quốc hạng trung — nước đông dân thứ 13 trên thế giới — với bờ biển dài ở giao lộ của những tuyến đường hàng hải chính và gần với những mỏ dầu ngoài khơi. Khi tôi đến thăm Việt Nam vào năm ngoái, tôi nhận thấy một đất nước bị kẹt không chỉ với những mục tiêu phát triển kinh tế mà còn với những thách thức của việc tìm kiếm một cách sống với anh láng giềng lâu đời và sự bá quyền — một thách thức mà nó ngày càng trông ngóng vào Hoa Kỳ, một thời là kẻ thù, để giúp đỡ đối phó.

Điều đó có thể đòi hỏi rằng người Hoa Kỳ, ít ra là thế, chuyển đổi quan điểm lịch sử của họ và thử nhìn thế giới qua con mắt của người Việt Nam. Ngô Quang Xuân, phó chủ tịch Ủy ban Đối Ngoại của Quốc Hội, nói với tôi rằng năm bước ngoặt đối với Việt Nam đương đại không phải là năm 1975, khi mà Nam Việt Nam bị tràn ngập bởi Cộng Sản Bắc Việt, mà là năm 1995 khi mà quan hệ được bình thường hóa với Hoa Kỳ và Việt Nam gia nhập ASEAN và ký một hiệp định “cơ cấu tổ chức” với Liên Minh Châu Âu. “Chúng tôi gia nhập thế giới”, Xuân thừa nhận rằng trước khi đưa ra những quyết định này, “chúng tôi đã có nhiều thảo luận gay gắt giữa chúng tôi.” Sự thực là cho dù những chiến thắng liên tục của họ đối với Pháp và Hoa Kỳ, những người Việt Cộng, theo như những quan chức của họ giải thích cho tôi hay trong những loạt đối thoại trong nhiều tuần, cảm thấy liên tục bị sỉ nhục bởi những sự kiện tiếp diễn sau đó.

Hãy xét đến chuyện này: Việt Nam đã đánh sang Campuchia vào năm 1978, giải phóng đất nước đó khỏi sự diệt chủng điên cuồng của chính quyền Khmer Đỏ của Pol Pot. Cho dù cuộc xâm lăng là một hành động của thực tế lạnh lùng để gạt bỏ mối đe dọa chiến lược đặt ra bởi chính quyền Khmer Đỏ thân Trung Quốc, nó đã có một kết quả nhân đạo rõ ràng sâu đậm và to lớn. Cho dù vậy, đối với hành động nhân đạo then chốt này, Việt Nam thân Sô Viết đã bị cấm vận bởi liên minh của Trung Quốc kể cả Hoa Kỳ mà kể từ chuyến đi của Tổng thống Nixon đến Trung Quốc năm 1972 đã ngả về phía Bắc Kinh. Vào năm 1979, chính Trung Quốc xâm lược Việt Nam để ngăn Việt Nam khỏi hành quân xuyên qua Cambodia đến Thái Lan. Trong khi đó Liên Bang Sô Viết đã chẳng bao giờ chi viện cho chư hầu của nó. Việt Nam lúc đó bị cô lập về mặt ngoại giao, bị sa lầy ở Cambodia và chìm trong đói nghèo, chủ yếu là do hậu quả của chủ nghĩa quân phiệt của nó. 

Các nhà lãnh đạo Việt Nam của thập niên 70, thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore lúc bấy giờ viết trong hồi ký của ông năm 2000, là “quá quắt”, là tự hào là “những người Phổ của Đông Nam Á.” Thế nhưng sự kiêu ngạo, như những nhà lãnh đạo Việt Nam đã nói với tôi, đã không kéo dài. Thiếu hụt lương thực nghiêm trọng và sự sụp đổ của đế chế Sô Viết vào những năm 1989–91 đã buộc Việt Nam rút quân khỏi Cambodia. Việt Nam lúc này lạc lõng không bạn, chiến thắng của nó với Hoa Kỳ là một ký ức xa vời. “Cảm giác chiến thắng của cuộc chiến đó luôn bị nghẹn lại,” một nhà ngoại giao Việt Nam cho tôi hay, “bởi vì đã chẳng có thành quả nào của hòa bình.”

“Người Việt Nam không có bóng ma ám ảnh của cuộc chiến chống Mỹ vào thập niên 60 và 70,” một nhà ngoại giao phương Tây cho tôi hay. “Đúng hơn là một thế hệ nào đó của Hoa Kỳ bị đắm chìm với thời gian.” Người Việt Nam vẫn chưa quên rằng 20 phần trăm đất nước của họ là không ở được là do bom đạn chưa nổ của Hoa Kỳ; hoặc là bởi vì chất khai hoang Da Cam, sẽ chẳng có gì sẽ mọc lại trong nhiều phần đất đáng kể. Thế nhưng ba phần tư của tất cả dân Việt Nam là được sinh sau “Chiến Tranh chống Mỹ”, theo cách gọi của họ để phân biệt với những cuộc chiến tranh khác trước đó và sau đó cho dù phần lớn không có ký ức gì về nó. Những sinh viên và các quan chức trẻ mà tôi gặp ở Học viện Ngoại giao của Việt Nam, một chi nhánh của Bộ Ngoại Giao, xa cách về thời gian đối với Chiến Tranh Chống Mỹ còn hơn Baby Boomers đối với Thế Chiến Thứ Hai.

Một lý do khác người Việt Nam tương đối có ít nhạy cảm về Chiến Tranh chống Mỹ là họ đã chiến thắng. Trong một cuộc họp nhỏ với tôi ở Học Viện Ngoại Giao với tượng ông Hồ trong phòng, các sinh viên và quan chức nói với tôi rằng họ đã có lúc phê phán Hoa Kỳ nhưng với những lý do chẳng dính dáng gì đến cuộc chiến. Họ đã lấy làm lo ngại rằng Hoa Kỳ đã không can thiệp chống lại Trung Quốc vào thập niên 90 khi Bắc Kinh thách thức chủ quyền của Philippines của Mischief Reef (Đá Vành Khăn — ND), một phần của Quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Một sinh viên tóm tắt rằng “Sức mạnh Hoa Kỳ là cần thiết cho nền an ninh của thế giới.” Dĩ nhiên là hết người này đến người khác, các sinh viên và các quan chức ở Học Viện Ngoại Giao dùng cụm từ cân bằng quyền lực để mô tả Hoa Kỳ đối trọng với Trung Quốc. “Người Trung Quốc quá mạnh quá quả quyết” một chuyên viên phân tích nữ nói. “Đó là tại sao một Pax Sinica là rất đe dọa đối với chúng tôi.”

Trái với Hoa Kỳ đã từng là phần nhỏ đối với người Việt Nam trong quá khứ, Trung Quốc luôn là chính yếu. “Sử chính thống của Việt Nam tràn ngập nhấn mạnh về chống ngoại xâm, hầu hết luôn là chống Trung Quốc,” Robert Templer viết trong một quyển sách mở đường 1998 về Việt Nam đương đại, Shadows and Wind. “Nỗi lo sợ bị đô hộ là thường trực và không phân biệt lý tưởng, nó đã tạo ra sự khắc khoải khôn nguôi và sự tự vệ về bản sắc Việt Nam.” Như một nhà ngoại giao Việt Nam nói với tôi: “Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam 17 lần. Hoa Kỳ xâm lược Mexico chỉ một lần và người Mexico nhạy cảm về chuyện đó ra sao. Chúng tôi lớn lên với các sách giáo khoa đầy những câu chuyện về những anh hùng dân tộc đánh Trung Quốc.” Nỗi lo sợ của người Việt đối với Trung Quốc là sâu đậm chính vì Việt Nam không thể thoát khỏi gọng kềm của của anh hàng xóm khổng lồ phương bắc với dân số gấp 15 lần. Người Việt biết rằng địa lý quyết định mối quan hệ của họ: họ có thể thắng trên chiến trường nhưng họ luôn phải đi triều cống Bắc Kinh. Hoàn cảnh như vậy quả là xa lạ đối với một quốc gia gần như quốc đảo như Hoa Kỳ.

Việt Nam khởi đầu là một tiền đồn phương nam của văn hóa Trung Quốc. Nó bị sáp nhập vào Đế chế Hán Trung Hoa vào năm 111 TCN. Kể từ đó trở đi, nó bị chiếm đóng bởi Trung Quốc hoặc bị ách chư hầu triều cống hầu như gần một ngàn năm. Sau đó những triều đại Việt Nam như Lý, Trần, và Lê là vĩ đại vì họ chống trả lại sự thống trị của Trung Quốc từ phương Bắc, đẩy lùi hàng đoàn quân đông hơn gấp bội. “Đóng góp của Trung Quốc đối với Việt Nam bao trùm đủ mọi khía cạnh của văn hóa, xã hội, và chính phủ, từ đôi đũa dùng bởi nông dân cho đến ngòi bút lông dùng bởi các ông đồ và ông quan,” Keith Weller Taylor của Đại học Cornell viết trong Sự Khai Sinh của Việt Nam (1983). 

Tất nhiên là văn học Việt Nam đã được “thấm nhiễm” với di sản cổ điển của Trung Quốc: tiếng Hán đã từng là ngôn ngữ của học giả ở Việt Nam cũng như Latin ở Châu Âu. Qua bao thăng trầm của lịch sử, văn hóa của nông dân Việt Nam vẫn giữ được nét riêng của nó có phần nhiều hơn là văn hóa của giới tinh hoa Việt Nam. Trong giới tinh hoa, theo như chuyên gia Victor Lieberman về Đông Nam Á của Đại học Michigan giải thích, những quy tắc hành chánh của Trung Quốc đã được “hình thành đến mức mà nguồn gốc ngoại lai của nó trở nên vô nghĩa”. Ước muốn mãnh liệt của tất cả người Việt được tách biệt khỏi Trung Quốc đã được củng cố bởi sự tiếp xúc của họ với người Chàm và Khmer ở phương nam. Những người này đã bị ảnh hưởng bởi những nền văn minh không phải Trung Hoa, đặc biệt là văn minh Ấn Độ. Do sự tương đồng sâu đậm với người Trung Quốc, người Việt bị đắm chìm bởi việc tự mãn với những nét khác biệt nhỏ nhặt và điều này làm những sự kiện trong quá khứ càng rõ nét đối với họ.

Những chiến thắng của Việt Nam chống Trung Quốc và đối với người Chàm và người Khmer ở miền nam đã tạo thành một bản sắc dân tộc riêng biệt — một quá trình được khuyến khích bởi sự bất lực của Trung Quốc, cho đến thời hiện đại, để yên Việt Nam. Vào năm 1946, Trung Quốc thông đồng với Pháp để quân đội Trung Quốc chiếm đóng ở miền bắc Việt Nam thay thế bằng quân đội Pháp. Lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình “chưa bao giờ mất lòng căm thù tận xương tủy đối với người Việt”, Templer viết như vậy. Ngoài việc đưa 100 000 quân Trung Quốc vào Việt Nam năm 1979, Đặng đặt ra một chính sách “làm khánh kiệt Hà Nội” bằng cách tròng Việt Nam vào một cuộc chiến tranh du kích ở Cambodia.

Thế nhưng bây giờ thì những vấn đề của biên giới trên đất liền mà dẫn đến những cuộc chiến đó phần lớn được giải quyết. Cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia phần lớn ở Châu Á đã chuyển qua lãnh vực hàng hải chủ yếu là ở Biển Đông. Với gần 2000 dặm Anh bờ biển tạo thành bờ tây của Biển Đông, Việt Nam chợt nhận ra rằng họ ở tâm điểm của một tấn kịch sử địa mà có thể sẽ là tương đương về mức độ sử thi của những cuộc chiến trên đất liền của cuối thế kỷ 20. 

Biển Đông kết nối Ấn Độ Dương với phía tây của Thái Bình Dương, nối liền những tuyến đường hàng hải toàn cầu qua những eo biển Malacca, Sunda, Lombok, và Makassar. Những nút cổ chai này giám sát tuyến đường của hơn nửa hàng hóa thương mại của cả thế giới và một phần ba của tất cả giao thông đường biển toàn cầu. Dầu hỏa được vận chuyển qua Eo biển Malacca từ Ấn Độ Dương, đi đến Đông Á bằng con đường Biển Đông, là gấp ba lần so với lượng dầu đi qua Kênh đào Suez và 15 lần so với Kênh đào Panama. Khoảng hai phần ba nguồn cung cấp năng lượng của Nam Triều Tiên, khoảng 60 phần trăm của Nhật Bản và Đài Loan , và khoảng 80 phần trăm dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Vùng biển cũng có trữ lượng dầu đã được xác thực 7 tỷ thùng và ước tính khoảng 900 ngàn tỷ bộ Anh vuông khí đốt. Nếu những tính toán của người Trung Quốc rằng Biển Đông sẽ cho trữ lượng 130 tỷ thùng dầu là đúng thì Biển Đông chứa nhiều dầu hơn bất cứ vùng nào trên thế giới ngoại trừ Saudi Arabia.

Biển Đông có hơn 200 đảo nhỏ, bãi đá, và bãi san hô — chỉ khoảng ba chục trong số này là luôn ở trên mặt nước — là mục tiêu của những tranh chấp lãnh thổ ngày càng mang tính địa chiến lược dữ dội và bí ẩn. Brunei tuyên bố chủ quyền một bãi san hô phía nam của quần đảo Trường Sa. Malaysia tuyên bố chủ quyền ba đảo ở quần đảo Trường Sa. Philippines tuyên bố chủ quyền tám hòn đảo ở quần đảo Trường Sa và những phần đáng kể ở Biển Đông. Thế nhưng Đài Loan, Trung Quốc, và sau cùng là Việt Nam mỗi nước tuyên bố chủ quyền tất cả hoặc hầu hết Biển Đông cũng như tất cả nhóm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. 

Vào giữa năm 2010, Trung Quốc tạo ra một khuấy động khi họ gọi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”. Sự việc thật ra là các quan chức Trung Quốc không hẳn nói như vậy; không thành vấn đề. Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền vùng bên trong cái mà họ gọi là “đường lịch sử” và vạch trên bản đồ với chín đường; một vòng tròn lớn gọi là “đường lưỡi bò” hoàn toàn bao phủ các nhóm quần đảo từ phía nam cách 1200 dặm Anh đảo Hải Nam của Trung Quốc cho đến gần Singapore và Malaysia — đó là trung tâm của toàn bộ Biển Đông Nam Á. Kết cục của việc tuyên bố chủ quyền bành trướng này là tất cả những quốc gia có bờ biển tiếp giáp quay lại chống Trung Quốc dù muốn hay không. Họ cũng ngày càng ngả về Hoa Kỳ để tìm kiếm hậu thuẫn ngoại giao và quân sự.

“Những vấn đề biên giới đất liền không còn quan trọng so với vấn đề Biển Đông đối với chúng tôi”, Nguyễn Duy Chiến nói, phó chủ tịch Ủy ban Biên Giới Quốc Gia. Khi chúng tôi gặp ở văn phòng đơn sơ và nhỏ bé, Chiến trong trang phục nâu xám tiếp đãi tôi với phong cách Việt Nam làm tôi nhớ đến ấn tượng của nhà chính trị Lý Quang Diệu của thập niên 70 về phong cách lãnh đạo của người Việt Nam là cực kỳ nghiêm nghị và “Khổng giáo”. Buổi họp bắt đầu và kết thúc đúng giờ và Chiến cung cấp không ngừng các chi tiết trong trình bày PowerPoint công kích quan điểm của Trung Quốc từ mọi góc nhìn khác nhau có thể.

Một phần ba cư dân của Việt Nam sống dọc theo bờ biển, Chiến nói với tôi, và khu vực [kinh tế] thủy sản chiếm khoảng 50 phần trăm của GDP cả nước. Việt Nam tuyên bố chủ quyền một đường 200 hải lý trên thềm lục địa ở Biển Đông (theo cách gọi của người Việt). Điều này tuân theo vùng đặc quyền kinh tế được định nghĩa bởi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Biển. Thế nhưng, Chiến công nhận, nó “trùng lắp” với những vùng biển được tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và Malaysia và với những vùng của Cambodia và Thái Lan ở Vịnh Thái Lan kế bên. Chiến giải thích rằng Việt Nam và Trung Quốc nói chung đã giải quyết những tranh chấp ở Vịnh Bắc Bộ — Đảo Hải Nam của Trung Quốc ngăn chặn phần lớn bờ biển phía Bắc của Việt Nam ra đại dương — bằng cách chia vùng vịnh đầy năng lượng làm đôi. Ông nói “Thế nhưng chúng tôi không thể chấp nhận vùng lưỡi bò,” ý muốn nói là con đường lịch sử chín vạch ở Biển Đông. “Trung Quốc nói rằng khu vực đang trong tranh chấp. Chúng tôi nói không. Vùng lưỡi bò vi phạm tuyên bố chủ quyền của năm nước.”

Sau đó Chiến cho tôi xem một loạt các bản đồ trên máy tính của ông và kể lại một câu chuyện lịch sử lâu đời. “Khi các hoàng đế nhà Minh chiếm đóng Việt Nam trong thế kỷ 15, họ đã không chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu những quần đảo này thuộc về Trung Quốc, tại sao những hoàng đế nhà Minh đã không vẽ chúng trong các bản đồ của họ?” ông hỏi. “Vào đầu thế kỷ 20, tại sao các bản đồ của nhà Thanh bỏ qua quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nếu chúng thuộc về Trung Quốc?” Vào năm 1933, Pháp đã đưa quân ra quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông ta nói với tôi, ngụ ý rằng bởi vì quần đảo là một phần của Đông Dương thuộc Pháp, bây giờ chúng thuộc về Việt Nam. Ông thêm rằng vào năm 1956 và 1988, Trung Quốc đã sử dụng “vũ lực” để chiếm giữ những bãi cạn ở Hoàng Sa. 

Cuối cùng ông trình chiếu một slide của nhà thờ Santa Maria del Monte ở Ý hình chụp của một bản thảo từ năm 1850 với một trang rưỡi giải thích quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam ra sao. Nỗi đam mê của ông ta với những chi tiết như vậy có mục đích: một bản đồ khác trên trình chiếu PowerPoint cho thấy phần lớn của Biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được chia thành nhiều lô nhỏ để khai thác dầu mà Việt Nam có thể khoán trong tương lai cho các công ty quốc tế.

Người Việt nói với tôi nhiều lần là Biển Đông có tầm quan trọng hơn chỉ là một hệ thống của những tranh chấp lãnh thổ: nó là giao lộ của thương mại hàng hải quốc tế, có tính sống còn đối với nhu cầu năng lượng của Nam Triều Tiên và Nhật Bản và là nơi mà Trung Quốc có thể một ngày nào đó kiểm soát quyền lực của Hoa Kỳ ở Châu Á. Việt Nam thật sự nằm ở trung tâm lịch sử và văn hóa của cái mà các nhà hoạch định chính sách của chính quyền Obama và những người khác ngày càng gọi là “Ấn–Thái Bình Dương” — Ấn Độ và Đông Á.

Không có gì bằng để diễn tả tham vọng của Việt Nam trở thành một người tham gia chính ở khu vực hơn là việc mua sắm sáu tàu ngầm hàng đầu lớp Kilo từ Nga. Một chuyên gia quốc phòng phương Tây ở Hà Nội nói với tôi rằng việc mua sắm chẳng có hợp lý tý nào cả: “Sẽ có một cú sốc giá cả cho người Việt khi họ nhận ra rằng nó tốn tiền như thế nào để đơn thuần bảo trì những tàu ngầm này.” Quan trọng hơn cả, chuyên gia cho hay, người Việt sẽ phải huấn luyện thủy thủ để sử dụng chúng — một việc làm mất cả thế hệ. “Để chống tàu ngầm Trung Quốc,” chuyên gia cho hay, “họ sẽ được lợi hơn nếu họ tập trung vào chiến tranh chống tàu ngầm và phòng thủ duyên hải.” Rõ ràng là người Việt mua những tàu ngầm này là những món hàng sĩ diện để nói Chúng tôi không đùa.

Giao dịch hàng tỷ đô với Nga cho những tàu ngầm bao gồm 200 triệu đô cho tân trang Vịnh Cam Ranh — một trong những chỗ neo tàu nước sâu tốt nhất ở Đông Nam Á, nằm sát những tuyến hàng hải ở Biển Đông, và là một căn cứ hoạt động chính cho quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Người Việt đã nói rằng mục tiêu của họ là để Vịnh Cam Ranh dùng cho hải quân ngoại quốc. Ian Storey, một thành viên của Viện Đông Nam Á Học ở Singapore, viết rằng một mong muốn không nói ra của Việt Nam là việc chỉnh trang Vịnh Cam Ranh sẽ “củng cố mối quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ và cho phép sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ ở Đông Nam Á như là một đối trọng với sự đi lên của quyền lực Trung Quốc.” Vịnh Cam Ranh đóng một vai trò hoàn hảo cho chiến lược của Ngũ Giác Đài “địa điểm chứ không phải cứ địa,” trong đó tàu và máy bay của Hoa Kỳ có thể thường xuyên ghé thăm những tiền đồn quân sự của ngoại quốc để sửa chữa và tái tiếp liệu mà không cần những hiệp ước căn cứ chính thức và nhạy cảm chính trị.

Một sự hợp tác chiến lược không chính thức giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, trên thực tế, là được tuyên bố vào tháng Bảy năm 2010 ở một cuộc họp Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội khi mà Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton nói rằng Hoa Kỳ có “quyền lợi quốc gia” ở Biển Đông, rằng Hoa Kỳ sẵn sàng tham gia vào những nỗ lực đa phương để giải quyết những tranh chấp biên giới ở đó, và rằng những tuyên bố chủ quyền nên dựa trên những đặc trưng đất liền: điều đó có nghĩa là, dựa vào những mép thềm lục địa, một khái niệm bị vi phạm bởi đường lịch sử của Trung Quốc. 

Bộ trưởng Ngoại giao của Trung Quốc Dương Khiết Trì gọi những lời bình luận của Clinton là “gần như là một tấn công vào Trung Quốc.” Các quan chức Hoa Kỳ bỏ qua những lời bình luận của Dương. Kể từ đó, chính quyền Obama đã công bố các kế hoạch để luân chuyển 2500 thủy quân lục chiến ra vào phía bắc Úc, tuyên bố rằng các cắt giảm ngân sách của Ngũ Giác Đài sẽ không đụng đến những lực lượng Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, và đã tuyên bố ý định — những hành động cho phép — để “xoay chuyển” khỏi Trung Đông và hướng về Thái Bình Dương. Hoa Kỳ nhìn nhận thế giới như Việt Nam: cảm thấy đe dọa bởi sự lớn mạnh của sức mạnh Trung Quốc. Sự khác biệt là Hoa Kỳ có nhiều lợi ích địa chính trị, Việt Nam chỉ có một: đối trọng Trung Quốc.

Thế nhưng Việt Nam không vì vậy mà ghẻ lạnh Trung Quốc và trong vòng tay của Hoa Kỳ. Việt Nam quá phụ thuộc và liên kết với Trung Quốc. Trong khi Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác — bông vải, máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu, đồ điện tử, da thuộc, và nhiều hàng gia dụng khác. Kinh tế của nơi này đơn giản là không thể hoạt động nếu không có Trung Quốc, cho dù ngay cả Trung Quốc làm trở ngại sự phát triển của ngành sản xuất địa phương bằng cách tràn ngập Việt Nam với sản phẩm rẻ mạt. 

Hơn nữa các quan chức Việt Nam ghi nhớ sự không cân xứng về địa lý của vị thế của họ: như họ nói, “Nước xa không cứu được lửa gần.” Sự gần gũi của Trung Quốc và sự thực là Hoa Kỳ cách nửa vòng trái đất có nghĩa là người Việt phải đương đầu với những sự sỉ nhục như hủy hoại môi trường của việc Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở Cao Nguyên Trung Phần trù phú — một dự án mà, như những dự án khác ở trong nước, mướn công nhân Trung Quốc hơn là công nhân Việt Nam. “Chúng tôi không thể tái định cư,” Nguyễn Tâm Chiến, cựu thứ trưởng ngoại giao, nói với tôi. “Về thống kê mà nói thì chúng tôi là một tỉnh của Trung Quốc.”

Bởi vì Liên Bang Sô Viết đã không giúp đỡ Việt Nam vào năm 1979, người Việt Nam sẽ không bao giờ hoàn toàn tin tưởng một cường quốc xa xăm. Ngoài chuyện địa lý ra, người Việt Nam ở một chừng mực căn bản nào đó không tin tưởng Hoa Kỳ. Một quan chức nói với tôi đơn giản là Hoa Kỳ đang suy thoái, một tình trạng bị làm cho tồi tệ hơn bởi việc tiếp tục chú trọng đến Trung Đông của Washington thay vì sự đi lên của Trung Quốc ở Đông Á — dẫu cho những cam đoan gần đây cho thấy ngược lại. Cho dù một nhận xét như vậy là chủ quan, dù gì đi nữa nó có thể chính xác. Rồi thì còn nỗi lo sợ rằng Hoa Kỳ sẽ bán đứng Việt Nam vì mục đích cho một quan hệ nồng ấm hơn với Trung Quốc: Xuân, nhân viên của ủy ban đối ngoại, đặc biệt đề cập đến sự mở cửa của Nixon với Trung Quốc là việc tạo ra hoàn cảnh địa chiến lược cho Trung Quốc xâm lược Việt Nam. “Điều đó có thể xảy ra một lần nữa,” ông nói với tôi, lắc đầu thất vọng. Một viên chức của chính quyền Cộng sản nói với tôi, “Chuyện to đoành trong những cuộc nói chuyện với người Hoa Kỳ là dân chủ và nhân quyền.” Người Việt sống trong nỗi lo sợ rằng áp lực từ Quốc Hội, truyền thông, và các tổ chức phi chính phủ có thể một ngày nào đó làm White House bán đứng họ như đã bán đứng những nước Châu Á độc tài: Uzbekistan và Nepal, ví dụ vậy. “Điều quý nhất phải là sự đoàn kết quốc gia và độc lập,” Lê Chí Dũng, phó trưởng phòng Bộ Ngoại giao, nói với tôi, cố gắng giải thích triết lý chính trị của nước ông cho tôi hay. “Đất nước chứ không phải cá nhân làm anh tự do.”

Tất nhiên là sự tồn tại của chính quyền Cộng sản trong chủ nghĩa tư bản tràn lan ở Việt Nam có phần nào được lý giải bởi những nguyên do mang tính quốc gia của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ đã lãnh đạo đất nước suốt những cuộc chiến chống Pháp, Mỹ, và Trung Quốc. Hơn nữa, như Tito ở Yugoslavia và Enver Hoxha Albania, Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo nội địa, không bị đặt vào vị trí lãnh đạo bởi một đội quân xâm lược. Người Việt Cộng đã lợi dụng những sự tương đồng giữa “Tư tưởng Hồ Chí Minh” và Đạo Khổng về mặt gia đình và chính quyền. “Chủ nghĩa quốc gia được xây dựng từ Đạo Khổng,” Lê Chí Dũng thuộc Bộ Ngoại Giao nói. Neil Jamieson, tác giả của Understanding Vietnam (1993), viết rằng “đặc tính chung của người Việt về sự 'chuyên chế,'” một giả định của “có phần cơ bản, trật tự đạo đức xác định về thế giới.” Đặc trưng này hệ quả là liên quan đến ý tưởng chính nghĩa, điều mà có thể dịch thoáng là nghĩa vụ xã hội đối với gia đình và sự đoàn kết của nhóm.

Có một lý do khác chủ nghĩa Cộng sản tồn tại ở đây là phần căn bản nhất của nó đang dần biến mất. Người Việt đang ở tình trạng tương tự như người Trung Quốc: họ bị cai trị bởi Đảng Cộng sản có đủ thứ ngoại trừ từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản. Họ đã chấp nhận một khế ước xã hội ngấm ngầm là họ đồng ý sẽ không phản đối quá lớn tiếng chừng nào đảng còn bảo đảm mức thu nhập cao hơn. Tất nhiên là những nhà cai trị của Việt Nam không thể rút cục bị xa lánh như của Trung Quốc vì họ đã thử nghiệm: làm giàu tư bản trong khi đất nước vẫn bị lãnh đạo bởi Đảng Cộng Sản.

Trong một phần tư thế kỷ, Việt Nam đã đi từ tem phiếu đến có thặng dư gạo nhiều nhất trên thế giới. Nó vừa gia nhập, về mặt thống kê mà nói, các nước có thu nhập trung bình thấp với mức GDP bình quân 1100 USD mỗi đầu người. Thay vì có một lãnh đạo có tất cả quyền, nhưng có phần kém hiệu quả, với chân dung được in trên các pa nô như trong trường hợp của Tunisia, Ai Cập, Syria, và những nước Ả Rập khác, bộ ba chuyên chính của Việt Nam — chủ tịch đảng, chủ tịch nước, và thủ tướng (*) — đã điều hành đất nước với trung bình 7 phần trăm tăng trưởng GDP mỗi năm trong vòng hơn một thập niên vừa qua. Ngay cả khi ở đáy của cuộc Đại Khủng Hoảng vào năm 2009, kinh tế địa phương tăng trưởng 5.5 phần trăm. “Đây là một kỷ lục ấn tượng trong việc giảm nghèo trong lịch sử thế giới,” một nhà ngoại giao phương Tây cho hay. “Họ đã đi từ xe đạp đến xe máy.” Điều đó, đối với người Việt Nam, có thể là dân chủ. Và ngay cả nếu đó là không phải, ta có thể nói rằng các chế độ chuyên chính của Việt Nam và Trung Quốc đã không lấy đi của dân chúng nhân phẩm theo cách mà những chế độ ở Trung Đông đã làm. “Các nhà lãnh đạo ở Trung Đông nắm quyền quá lâu và duy trì tình trạng khẩn cấp cho hàng chục năm,” một cựu lãnh đạo cấp cao của Việt Nam nói với tôi. “Không có chuyện đó ở đây. Thế nhưng chúng tôi có những vấn đề của tham nhũng, cách biệt khủng khiếp trong thu nhập, và nhiều người trẻ thất nghiệp như các nước Trung Đông.”

Điều làm Đảng Cộng Sản Việt Nam sợ là không hẳn là ám ảnh của Mùa Xuân Ả Rập mà là cuộc nổi dậy của sinh viên ở Trung Quốc vào năm 1989 khi mà lạm phát ở Trung Quốc cao gần như ở Việt Nam cho đến gần đây và tham nhũng và nạn con ông cháu cha bị dân chúng xem là ngoài vòng kiểm soát — đó là trường hợp của Việt Nam ngày nay. Và dẫu vậy, các đảng viên cũng lo ngại rằng cải cách chính trị có thể đưa họ đi đến con đường của trước 1975 ở Nam Việt Nam mà chính quyền yếu kém và bè phái dẫn đến sự sụp đổ chính phủ; hoặc Trung Quốc vào thời kỳ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 với chính phủ trung ương yếu kém dẫn đến ngoại bang đô hộ. Các quan chức Việt Nam ngưỡng mộ Singapore ra mặt, một quốc gia độc đảng mà điều hành chính phủ với kỷ luật và trong sạch .

Trong khi đó thì các nhà lãnh đạo của Việt Nam sẽ tiếp tục đi theo phong cách Phổ của họ, các chính sách kinh tế tư bản của họ, và kiểm soát chính trị chặt chẽ của họ để duy trì độc lập quốc gia đối với Trung Quốc. Họ biết rằng, không như những nước của Mùa Xuân Ả Rập, đất nước của họ đương đầu với đối thủ bên ngoài, cho dù tương đồng về tư tưởng, mà mối đe dọa ngoại xâm làm thuyên giảm những ước muốn của dân chúng về tự do hơn về chính trị. Thế nhưng như các nhà lãnh đạo của Ấn Độ, các nhà lãnh đạo Việt Nam thận trọng về bất cứ một thỏa thuận hiệp ước chính thức với Hoa Kỳ. Tất nhiên là nếu điều bắt buộc cần có một hiệp ước phòng thủ với Hoa Kỳ phải đến thì điều đó cho thấy tình hình an ninh ở Biển Đông đã trở nên mất ổn định. Trong trường hợp nào đi nữa, số phận của Việt Nam, và khả năng của nó để không bị Phần Lan hóa bởi Trung Quốc, sẽ cho thấy nhiều về khả năng của Hoa Kỳ phô diễn sức mạnh ở Thái Bình Dương và trên toàn thế giới ở thế kỷ 21 cũng như định mệnh của Việt Nam ở thế kỷ 20.