thư mục

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Giải pháp Việt nam


Giải pháp Việt nam

Robert D. Kaplan, The Atlantic Magazine

Ấn tượng về Hà Nội quả là đáng suy nghĩ. Những gì thủ đô của Việt Nam bắt chợt trong một khung ảnh tĩnh lặng tự thân là một quá trình diễn biến lịch sử — không gần như có vẻ là định mệnh, được định đoạt bởi địa lý theo nhịp trống dồn của những triều đại và những cướp bóc nhưng như thể là một sự tổng hợp của những hành động quả cảm cá nhân và những toan tính nát óc. Ở Nhà bảo tàng Lịch sử của thành phố, những bản đồ, sa bàn, những bia xám khổng lồ tưởng nhớ những cuộc kháng chiến của người Việt chống lại các đế quốc Tống, Minh, và Thanh vào thế kỷ thứ 11, 15, và 18. Cho dù Việt Nam đã từng bị sát nhập vào Trung Quốc cho đến thế kỷ thứ 10, bản sắc chính trị của nó riêng rẽ so với Trung Quốc kể từ đó là điều thần kỳ - một thứ mà không một lý thuyết nào của quá khứ có thể giải thích thỏa đáng.

Tất nhiên là sự huyền thoại lịch sử của Việt Nam có phần nhấn mạnh về điều đó. Sự thâm trầm và hỗn loạn của Đền Ngọc Sơn (tưởng niệm việc đánh bại nhà Nguyên vào thế kỷ thứ 13), bộ mặt tượng Phật bằng đồng được bao phủ bởi nhang, vàng lá, và gỗ đỏ và được bao quanh bởi Hồ Hoàn Kiếm xanh như súp đậu và bờ hồ rợp bóng cây, tạo thành sự chuẩn bị tinh thần cho một lăng tẩm khắc khổ hơn của Hồ Chí Minh. Hồ, một trong những người đàn ông vĩ đại nhỏ bé của thế kỷ 20, đã hòa trộn chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Khổng, và chủ nghĩa quốc tế thành một vũ khí chống người Trung Quốc, người Pháp, và người Mỹ, đặt nền móng cho những cuộc kháng chiến chống lại ba đế quốc của thế giới. 

Lăng của ông ta mang dáng dấp của những tòa nhà Châu Âu cổ xưa hàng thế kỷ và những nhà thờ mà chúng từng là trung tâm đầu não của Đông Dương — một hệ thống không chắc chắn mà Paris ngoan cố kéo dài sau Thế chiến Thứ Hai, buộc phải giao tranh với người Việt để dẫn đến sự thảm bại nhục nhã ở Trận chiến Điện Biên Phủ 1954.

Ngoài những công trình xây dựng này thì còn có những vật lộn hùng tráng mới nhất của thành phố đối với số mệnh: khu thương mại sầm uất và sôi động với hàng đoàn xe gắn máy — người lái xe gởi tin nhắn trên cellphone khi bị kẹt xe — và những mặt tiền mới nhất lấn át những cửa hàng to lớn lộn xộn và nhếch nhác. Đây là trước khi có cửa hàng loạt của chủ nghĩa tư bản với quán cà phê khắp nơi, mỗi quán là một phong cách và thiết kế khác nhau, có cà phê có lẽ ngon nhất thế giới và không có bảng hiệu của Starbuck. Cho dù có bề dày lịch sử, Hà Nội không phải là viện bảo tàng ngoài trời như những thành phố tuyệt vời của Châu Âu. Nó vẫn đang lọng cọng trong quá trình tiến đến chuyện đó — gần giống như sự hỗn loạn nhếch nhác của Ấn Độ hơn là sự sạch sẽ đến lạ lùng của Singapore.

Người Việt Nam đang dò dẫm vào thế giới những nước phát triển — vì lợi ích của chính họ và gia đình của họ, rõ là vậy, thế nhưng họ cũng bảo vệ sự độc lập của họ đối với một Trung Quốc năng động tương đương như vậy. Và nó đã từng như thế từ thời cổ đại. Hà Nội luôn là một thành phố của những toan tính chính trị căng thẳng, cái giá phải trả cho ở vị thế một cường quốc hạng trung — nước đông dân thứ 13 trên thế giới — với bờ biển dài ở giao lộ của những tuyến đường hàng hải chính và gần với những mỏ dầu ngoài khơi. Khi tôi đến thăm Việt Nam vào năm ngoái, tôi nhận thấy một đất nước bị kẹt không chỉ với những mục tiêu phát triển kinh tế mà còn với những thách thức của việc tìm kiếm một cách sống với anh láng giềng lâu đời và sự bá quyền — một thách thức mà nó ngày càng trông ngóng vào Hoa Kỳ, một thời là kẻ thù, để giúp đỡ đối phó.

Điều đó có thể đòi hỏi rằng người Hoa Kỳ, ít ra là thế, chuyển đổi quan điểm lịch sử của họ và thử nhìn thế giới qua con mắt của người Việt Nam. Ngô Quang Xuân, phó chủ tịch Ủy ban Đối Ngoại của Quốc Hội, nói với tôi rằng năm bước ngoặt đối với Việt Nam đương đại không phải là năm 1975, khi mà Nam Việt Nam bị tràn ngập bởi Cộng Sản Bắc Việt, mà là năm 1995 khi mà quan hệ được bình thường hóa với Hoa Kỳ và Việt Nam gia nhập ASEAN và ký một hiệp định “cơ cấu tổ chức” với Liên Minh Châu Âu. “Chúng tôi gia nhập thế giới”, Xuân thừa nhận rằng trước khi đưa ra những quyết định này, “chúng tôi đã có nhiều thảo luận gay gắt giữa chúng tôi.” Sự thực là cho dù những chiến thắng liên tục của họ đối với Pháp và Hoa Kỳ, những người Việt Cộng, theo như những quan chức của họ giải thích cho tôi hay trong những loạt đối thoại trong nhiều tuần, cảm thấy liên tục bị sỉ nhục bởi những sự kiện tiếp diễn sau đó.

Hãy xét đến chuyện này: Việt Nam đã đánh sang Campuchia vào năm 1978, giải phóng đất nước đó khỏi sự diệt chủng điên cuồng của chính quyền Khmer Đỏ của Pol Pot. Cho dù cuộc xâm lăng là một hành động của thực tế lạnh lùng để gạt bỏ mối đe dọa chiến lược đặt ra bởi chính quyền Khmer Đỏ thân Trung Quốc, nó đã có một kết quả nhân đạo rõ ràng sâu đậm và to lớn. Cho dù vậy, đối với hành động nhân đạo then chốt này, Việt Nam thân Sô Viết đã bị cấm vận bởi liên minh của Trung Quốc kể cả Hoa Kỳ mà kể từ chuyến đi của Tổng thống Nixon đến Trung Quốc năm 1972 đã ngả về phía Bắc Kinh. Vào năm 1979, chính Trung Quốc xâm lược Việt Nam để ngăn Việt Nam khỏi hành quân xuyên qua Cambodia đến Thái Lan. Trong khi đó Liên Bang Sô Viết đã chẳng bao giờ chi viện cho chư hầu của nó. Việt Nam lúc đó bị cô lập về mặt ngoại giao, bị sa lầy ở Cambodia và chìm trong đói nghèo, chủ yếu là do hậu quả của chủ nghĩa quân phiệt của nó. 

Các nhà lãnh đạo Việt Nam của thập niên 70, thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore lúc bấy giờ viết trong hồi ký của ông năm 2000, là “quá quắt”, là tự hào là “những người Phổ của Đông Nam Á.” Thế nhưng sự kiêu ngạo, như những nhà lãnh đạo Việt Nam đã nói với tôi, đã không kéo dài. Thiếu hụt lương thực nghiêm trọng và sự sụp đổ của đế chế Sô Viết vào những năm 1989–91 đã buộc Việt Nam rút quân khỏi Cambodia. Việt Nam lúc này lạc lõng không bạn, chiến thắng của nó với Hoa Kỳ là một ký ức xa vời. “Cảm giác chiến thắng của cuộc chiến đó luôn bị nghẹn lại,” một nhà ngoại giao Việt Nam cho tôi hay, “bởi vì đã chẳng có thành quả nào của hòa bình.”

“Người Việt Nam không có bóng ma ám ảnh của cuộc chiến chống Mỹ vào thập niên 60 và 70,” một nhà ngoại giao phương Tây cho tôi hay. “Đúng hơn là một thế hệ nào đó của Hoa Kỳ bị đắm chìm với thời gian.” Người Việt Nam vẫn chưa quên rằng 20 phần trăm đất nước của họ là không ở được là do bom đạn chưa nổ của Hoa Kỳ; hoặc là bởi vì chất khai hoang Da Cam, sẽ chẳng có gì sẽ mọc lại trong nhiều phần đất đáng kể. Thế nhưng ba phần tư của tất cả dân Việt Nam là được sinh sau “Chiến Tranh chống Mỹ”, theo cách gọi của họ để phân biệt với những cuộc chiến tranh khác trước đó và sau đó cho dù phần lớn không có ký ức gì về nó. Những sinh viên và các quan chức trẻ mà tôi gặp ở Học viện Ngoại giao của Việt Nam, một chi nhánh của Bộ Ngoại Giao, xa cách về thời gian đối với Chiến Tranh Chống Mỹ còn hơn Baby Boomers đối với Thế Chiến Thứ Hai.

Một lý do khác người Việt Nam tương đối có ít nhạy cảm về Chiến Tranh chống Mỹ là họ đã chiến thắng. Trong một cuộc họp nhỏ với tôi ở Học Viện Ngoại Giao với tượng ông Hồ trong phòng, các sinh viên và quan chức nói với tôi rằng họ đã có lúc phê phán Hoa Kỳ nhưng với những lý do chẳng dính dáng gì đến cuộc chiến. Họ đã lấy làm lo ngại rằng Hoa Kỳ đã không can thiệp chống lại Trung Quốc vào thập niên 90 khi Bắc Kinh thách thức chủ quyền của Philippines của Mischief Reef (Đá Vành Khăn — ND), một phần của Quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Một sinh viên tóm tắt rằng “Sức mạnh Hoa Kỳ là cần thiết cho nền an ninh của thế giới.” Dĩ nhiên là hết người này đến người khác, các sinh viên và các quan chức ở Học Viện Ngoại Giao dùng cụm từ cân bằng quyền lực để mô tả Hoa Kỳ đối trọng với Trung Quốc. “Người Trung Quốc quá mạnh quá quả quyết” một chuyên viên phân tích nữ nói. “Đó là tại sao một Pax Sinica là rất đe dọa đối với chúng tôi.”

Trái với Hoa Kỳ đã từng là phần nhỏ đối với người Việt Nam trong quá khứ, Trung Quốc luôn là chính yếu. “Sử chính thống của Việt Nam tràn ngập nhấn mạnh về chống ngoại xâm, hầu hết luôn là chống Trung Quốc,” Robert Templer viết trong một quyển sách mở đường 1998 về Việt Nam đương đại, Shadows and Wind. “Nỗi lo sợ bị đô hộ là thường trực và không phân biệt lý tưởng, nó đã tạo ra sự khắc khoải khôn nguôi và sự tự vệ về bản sắc Việt Nam.” Như một nhà ngoại giao Việt Nam nói với tôi: “Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam 17 lần. Hoa Kỳ xâm lược Mexico chỉ một lần và người Mexico nhạy cảm về chuyện đó ra sao. Chúng tôi lớn lên với các sách giáo khoa đầy những câu chuyện về những anh hùng dân tộc đánh Trung Quốc.” Nỗi lo sợ của người Việt đối với Trung Quốc là sâu đậm chính vì Việt Nam không thể thoát khỏi gọng kềm của của anh hàng xóm khổng lồ phương bắc với dân số gấp 15 lần. Người Việt biết rằng địa lý quyết định mối quan hệ của họ: họ có thể thắng trên chiến trường nhưng họ luôn phải đi triều cống Bắc Kinh. Hoàn cảnh như vậy quả là xa lạ đối với một quốc gia gần như quốc đảo như Hoa Kỳ.

Việt Nam khởi đầu là một tiền đồn phương nam của văn hóa Trung Quốc. Nó bị sáp nhập vào Đế chế Hán Trung Hoa vào năm 111 TCN. Kể từ đó trở đi, nó bị chiếm đóng bởi Trung Quốc hoặc bị ách chư hầu triều cống hầu như gần một ngàn năm. Sau đó những triều đại Việt Nam như Lý, Trần, và Lê là vĩ đại vì họ chống trả lại sự thống trị của Trung Quốc từ phương Bắc, đẩy lùi hàng đoàn quân đông hơn gấp bội. “Đóng góp của Trung Quốc đối với Việt Nam bao trùm đủ mọi khía cạnh của văn hóa, xã hội, và chính phủ, từ đôi đũa dùng bởi nông dân cho đến ngòi bút lông dùng bởi các ông đồ và ông quan,” Keith Weller Taylor của Đại học Cornell viết trong Sự Khai Sinh của Việt Nam (1983). 

Tất nhiên là văn học Việt Nam đã được “thấm nhiễm” với di sản cổ điển của Trung Quốc: tiếng Hán đã từng là ngôn ngữ của học giả ở Việt Nam cũng như Latin ở Châu Âu. Qua bao thăng trầm của lịch sử, văn hóa của nông dân Việt Nam vẫn giữ được nét riêng của nó có phần nhiều hơn là văn hóa của giới tinh hoa Việt Nam. Trong giới tinh hoa, theo như chuyên gia Victor Lieberman về Đông Nam Á của Đại học Michigan giải thích, những quy tắc hành chánh của Trung Quốc đã được “hình thành đến mức mà nguồn gốc ngoại lai của nó trở nên vô nghĩa”. Ước muốn mãnh liệt của tất cả người Việt được tách biệt khỏi Trung Quốc đã được củng cố bởi sự tiếp xúc của họ với người Chàm và Khmer ở phương nam. Những người này đã bị ảnh hưởng bởi những nền văn minh không phải Trung Hoa, đặc biệt là văn minh Ấn Độ. Do sự tương đồng sâu đậm với người Trung Quốc, người Việt bị đắm chìm bởi việc tự mãn với những nét khác biệt nhỏ nhặt và điều này làm những sự kiện trong quá khứ càng rõ nét đối với họ.

Những chiến thắng của Việt Nam chống Trung Quốc và đối với người Chàm và người Khmer ở miền nam đã tạo thành một bản sắc dân tộc riêng biệt — một quá trình được khuyến khích bởi sự bất lực của Trung Quốc, cho đến thời hiện đại, để yên Việt Nam. Vào năm 1946, Trung Quốc thông đồng với Pháp để quân đội Trung Quốc chiếm đóng ở miền bắc Việt Nam thay thế bằng quân đội Pháp. Lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình “chưa bao giờ mất lòng căm thù tận xương tủy đối với người Việt”, Templer viết như vậy. Ngoài việc đưa 100 000 quân Trung Quốc vào Việt Nam năm 1979, Đặng đặt ra một chính sách “làm khánh kiệt Hà Nội” bằng cách tròng Việt Nam vào một cuộc chiến tranh du kích ở Cambodia.

Thế nhưng bây giờ thì những vấn đề của biên giới trên đất liền mà dẫn đến những cuộc chiến đó phần lớn được giải quyết. Cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia phần lớn ở Châu Á đã chuyển qua lãnh vực hàng hải chủ yếu là ở Biển Đông. Với gần 2000 dặm Anh bờ biển tạo thành bờ tây của Biển Đông, Việt Nam chợt nhận ra rằng họ ở tâm điểm của một tấn kịch sử địa mà có thể sẽ là tương đương về mức độ sử thi của những cuộc chiến trên đất liền của cuối thế kỷ 20. 

Biển Đông kết nối Ấn Độ Dương với phía tây của Thái Bình Dương, nối liền những tuyến đường hàng hải toàn cầu qua những eo biển Malacca, Sunda, Lombok, và Makassar. Những nút cổ chai này giám sát tuyến đường của hơn nửa hàng hóa thương mại của cả thế giới và một phần ba của tất cả giao thông đường biển toàn cầu. Dầu hỏa được vận chuyển qua Eo biển Malacca từ Ấn Độ Dương, đi đến Đông Á bằng con đường Biển Đông, là gấp ba lần so với lượng dầu đi qua Kênh đào Suez và 15 lần so với Kênh đào Panama. Khoảng hai phần ba nguồn cung cấp năng lượng của Nam Triều Tiên, khoảng 60 phần trăm của Nhật Bản và Đài Loan , và khoảng 80 phần trăm dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Vùng biển cũng có trữ lượng dầu đã được xác thực 7 tỷ thùng và ước tính khoảng 900 ngàn tỷ bộ Anh vuông khí đốt. Nếu những tính toán của người Trung Quốc rằng Biển Đông sẽ cho trữ lượng 130 tỷ thùng dầu là đúng thì Biển Đông chứa nhiều dầu hơn bất cứ vùng nào trên thế giới ngoại trừ Saudi Arabia.

Biển Đông có hơn 200 đảo nhỏ, bãi đá, và bãi san hô — chỉ khoảng ba chục trong số này là luôn ở trên mặt nước — là mục tiêu của những tranh chấp lãnh thổ ngày càng mang tính địa chiến lược dữ dội và bí ẩn. Brunei tuyên bố chủ quyền một bãi san hô phía nam của quần đảo Trường Sa. Malaysia tuyên bố chủ quyền ba đảo ở quần đảo Trường Sa. Philippines tuyên bố chủ quyền tám hòn đảo ở quần đảo Trường Sa và những phần đáng kể ở Biển Đông. Thế nhưng Đài Loan, Trung Quốc, và sau cùng là Việt Nam mỗi nước tuyên bố chủ quyền tất cả hoặc hầu hết Biển Đông cũng như tất cả nhóm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. 

Vào giữa năm 2010, Trung Quốc tạo ra một khuấy động khi họ gọi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”. Sự việc thật ra là các quan chức Trung Quốc không hẳn nói như vậy; không thành vấn đề. Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền vùng bên trong cái mà họ gọi là “đường lịch sử” và vạch trên bản đồ với chín đường; một vòng tròn lớn gọi là “đường lưỡi bò” hoàn toàn bao phủ các nhóm quần đảo từ phía nam cách 1200 dặm Anh đảo Hải Nam của Trung Quốc cho đến gần Singapore và Malaysia — đó là trung tâm của toàn bộ Biển Đông Nam Á. Kết cục của việc tuyên bố chủ quyền bành trướng này là tất cả những quốc gia có bờ biển tiếp giáp quay lại chống Trung Quốc dù muốn hay không. Họ cũng ngày càng ngả về Hoa Kỳ để tìm kiếm hậu thuẫn ngoại giao và quân sự.

“Những vấn đề biên giới đất liền không còn quan trọng so với vấn đề Biển Đông đối với chúng tôi”, Nguyễn Duy Chiến nói, phó chủ tịch Ủy ban Biên Giới Quốc Gia. Khi chúng tôi gặp ở văn phòng đơn sơ và nhỏ bé, Chiến trong trang phục nâu xám tiếp đãi tôi với phong cách Việt Nam làm tôi nhớ đến ấn tượng của nhà chính trị Lý Quang Diệu của thập niên 70 về phong cách lãnh đạo của người Việt Nam là cực kỳ nghiêm nghị và “Khổng giáo”. Buổi họp bắt đầu và kết thúc đúng giờ và Chiến cung cấp không ngừng các chi tiết trong trình bày PowerPoint công kích quan điểm của Trung Quốc từ mọi góc nhìn khác nhau có thể.

Một phần ba cư dân của Việt Nam sống dọc theo bờ biển, Chiến nói với tôi, và khu vực [kinh tế] thủy sản chiếm khoảng 50 phần trăm của GDP cả nước. Việt Nam tuyên bố chủ quyền một đường 200 hải lý trên thềm lục địa ở Biển Đông (theo cách gọi của người Việt). Điều này tuân theo vùng đặc quyền kinh tế được định nghĩa bởi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Biển. Thế nhưng, Chiến công nhận, nó “trùng lắp” với những vùng biển được tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và Malaysia và với những vùng của Cambodia và Thái Lan ở Vịnh Thái Lan kế bên. Chiến giải thích rằng Việt Nam và Trung Quốc nói chung đã giải quyết những tranh chấp ở Vịnh Bắc Bộ — Đảo Hải Nam của Trung Quốc ngăn chặn phần lớn bờ biển phía Bắc của Việt Nam ra đại dương — bằng cách chia vùng vịnh đầy năng lượng làm đôi. Ông nói “Thế nhưng chúng tôi không thể chấp nhận vùng lưỡi bò,” ý muốn nói là con đường lịch sử chín vạch ở Biển Đông. “Trung Quốc nói rằng khu vực đang trong tranh chấp. Chúng tôi nói không. Vùng lưỡi bò vi phạm tuyên bố chủ quyền của năm nước.”

Sau đó Chiến cho tôi xem một loạt các bản đồ trên máy tính của ông và kể lại một câu chuyện lịch sử lâu đời. “Khi các hoàng đế nhà Minh chiếm đóng Việt Nam trong thế kỷ 15, họ đã không chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu những quần đảo này thuộc về Trung Quốc, tại sao những hoàng đế nhà Minh đã không vẽ chúng trong các bản đồ của họ?” ông hỏi. “Vào đầu thế kỷ 20, tại sao các bản đồ của nhà Thanh bỏ qua quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nếu chúng thuộc về Trung Quốc?” Vào năm 1933, Pháp đã đưa quân ra quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông ta nói với tôi, ngụ ý rằng bởi vì quần đảo là một phần của Đông Dương thuộc Pháp, bây giờ chúng thuộc về Việt Nam. Ông thêm rằng vào năm 1956 và 1988, Trung Quốc đã sử dụng “vũ lực” để chiếm giữ những bãi cạn ở Hoàng Sa. 

Cuối cùng ông trình chiếu một slide của nhà thờ Santa Maria del Monte ở Ý hình chụp của một bản thảo từ năm 1850 với một trang rưỡi giải thích quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam ra sao. Nỗi đam mê của ông ta với những chi tiết như vậy có mục đích: một bản đồ khác trên trình chiếu PowerPoint cho thấy phần lớn của Biển Đông, kể cả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được chia thành nhiều lô nhỏ để khai thác dầu mà Việt Nam có thể khoán trong tương lai cho các công ty quốc tế.

Người Việt nói với tôi nhiều lần là Biển Đông có tầm quan trọng hơn chỉ là một hệ thống của những tranh chấp lãnh thổ: nó là giao lộ của thương mại hàng hải quốc tế, có tính sống còn đối với nhu cầu năng lượng của Nam Triều Tiên và Nhật Bản và là nơi mà Trung Quốc có thể một ngày nào đó kiểm soát quyền lực của Hoa Kỳ ở Châu Á. Việt Nam thật sự nằm ở trung tâm lịch sử và văn hóa của cái mà các nhà hoạch định chính sách của chính quyền Obama và những người khác ngày càng gọi là “Ấn–Thái Bình Dương” — Ấn Độ và Đông Á.

Không có gì bằng để diễn tả tham vọng của Việt Nam trở thành một người tham gia chính ở khu vực hơn là việc mua sắm sáu tàu ngầm hàng đầu lớp Kilo từ Nga. Một chuyên gia quốc phòng phương Tây ở Hà Nội nói với tôi rằng việc mua sắm chẳng có hợp lý tý nào cả: “Sẽ có một cú sốc giá cả cho người Việt khi họ nhận ra rằng nó tốn tiền như thế nào để đơn thuần bảo trì những tàu ngầm này.” Quan trọng hơn cả, chuyên gia cho hay, người Việt sẽ phải huấn luyện thủy thủ để sử dụng chúng — một việc làm mất cả thế hệ. “Để chống tàu ngầm Trung Quốc,” chuyên gia cho hay, “họ sẽ được lợi hơn nếu họ tập trung vào chiến tranh chống tàu ngầm và phòng thủ duyên hải.” Rõ ràng là người Việt mua những tàu ngầm này là những món hàng sĩ diện để nói Chúng tôi không đùa.

Giao dịch hàng tỷ đô với Nga cho những tàu ngầm bao gồm 200 triệu đô cho tân trang Vịnh Cam Ranh — một trong những chỗ neo tàu nước sâu tốt nhất ở Đông Nam Á, nằm sát những tuyến hàng hải ở Biển Đông, và là một căn cứ hoạt động chính cho quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Người Việt đã nói rằng mục tiêu của họ là để Vịnh Cam Ranh dùng cho hải quân ngoại quốc. Ian Storey, một thành viên của Viện Đông Nam Á Học ở Singapore, viết rằng một mong muốn không nói ra của Việt Nam là việc chỉnh trang Vịnh Cam Ranh sẽ “củng cố mối quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ và cho phép sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ ở Đông Nam Á như là một đối trọng với sự đi lên của quyền lực Trung Quốc.” Vịnh Cam Ranh đóng một vai trò hoàn hảo cho chiến lược của Ngũ Giác Đài “địa điểm chứ không phải cứ địa,” trong đó tàu và máy bay của Hoa Kỳ có thể thường xuyên ghé thăm những tiền đồn quân sự của ngoại quốc để sửa chữa và tái tiếp liệu mà không cần những hiệp ước căn cứ chính thức và nhạy cảm chính trị.

Một sự hợp tác chiến lược không chính thức giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, trên thực tế, là được tuyên bố vào tháng Bảy năm 2010 ở một cuộc họp Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội khi mà Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton nói rằng Hoa Kỳ có “quyền lợi quốc gia” ở Biển Đông, rằng Hoa Kỳ sẵn sàng tham gia vào những nỗ lực đa phương để giải quyết những tranh chấp biên giới ở đó, và rằng những tuyên bố chủ quyền nên dựa trên những đặc trưng đất liền: điều đó có nghĩa là, dựa vào những mép thềm lục địa, một khái niệm bị vi phạm bởi đường lịch sử của Trung Quốc. 

Bộ trưởng Ngoại giao của Trung Quốc Dương Khiết Trì gọi những lời bình luận của Clinton là “gần như là một tấn công vào Trung Quốc.” Các quan chức Hoa Kỳ bỏ qua những lời bình luận của Dương. Kể từ đó, chính quyền Obama đã công bố các kế hoạch để luân chuyển 2500 thủy quân lục chiến ra vào phía bắc Úc, tuyên bố rằng các cắt giảm ngân sách của Ngũ Giác Đài sẽ không đụng đến những lực lượng Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, và đã tuyên bố ý định — những hành động cho phép — để “xoay chuyển” khỏi Trung Đông và hướng về Thái Bình Dương. Hoa Kỳ nhìn nhận thế giới như Việt Nam: cảm thấy đe dọa bởi sự lớn mạnh của sức mạnh Trung Quốc. Sự khác biệt là Hoa Kỳ có nhiều lợi ích địa chính trị, Việt Nam chỉ có một: đối trọng Trung Quốc.

Thế nhưng Việt Nam không vì vậy mà ghẻ lạnh Trung Quốc và trong vòng tay của Hoa Kỳ. Việt Nam quá phụ thuộc và liên kết với Trung Quốc. Trong khi Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác — bông vải, máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu, đồ điện tử, da thuộc, và nhiều hàng gia dụng khác. Kinh tế của nơi này đơn giản là không thể hoạt động nếu không có Trung Quốc, cho dù ngay cả Trung Quốc làm trở ngại sự phát triển của ngành sản xuất địa phương bằng cách tràn ngập Việt Nam với sản phẩm rẻ mạt. 

Hơn nữa các quan chức Việt Nam ghi nhớ sự không cân xứng về địa lý của vị thế của họ: như họ nói, “Nước xa không cứu được lửa gần.” Sự gần gũi của Trung Quốc và sự thực là Hoa Kỳ cách nửa vòng trái đất có nghĩa là người Việt phải đương đầu với những sự sỉ nhục như hủy hoại môi trường của việc Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở Cao Nguyên Trung Phần trù phú — một dự án mà, như những dự án khác ở trong nước, mướn công nhân Trung Quốc hơn là công nhân Việt Nam. “Chúng tôi không thể tái định cư,” Nguyễn Tâm Chiến, cựu thứ trưởng ngoại giao, nói với tôi. “Về thống kê mà nói thì chúng tôi là một tỉnh của Trung Quốc.”

Bởi vì Liên Bang Sô Viết đã không giúp đỡ Việt Nam vào năm 1979, người Việt Nam sẽ không bao giờ hoàn toàn tin tưởng một cường quốc xa xăm. Ngoài chuyện địa lý ra, người Việt Nam ở một chừng mực căn bản nào đó không tin tưởng Hoa Kỳ. Một quan chức nói với tôi đơn giản là Hoa Kỳ đang suy thoái, một tình trạng bị làm cho tồi tệ hơn bởi việc tiếp tục chú trọng đến Trung Đông của Washington thay vì sự đi lên của Trung Quốc ở Đông Á — dẫu cho những cam đoan gần đây cho thấy ngược lại. Cho dù một nhận xét như vậy là chủ quan, dù gì đi nữa nó có thể chính xác. Rồi thì còn nỗi lo sợ rằng Hoa Kỳ sẽ bán đứng Việt Nam vì mục đích cho một quan hệ nồng ấm hơn với Trung Quốc: Xuân, nhân viên của ủy ban đối ngoại, đặc biệt đề cập đến sự mở cửa của Nixon với Trung Quốc là việc tạo ra hoàn cảnh địa chiến lược cho Trung Quốc xâm lược Việt Nam. “Điều đó có thể xảy ra một lần nữa,” ông nói với tôi, lắc đầu thất vọng. Một viên chức của chính quyền Cộng sản nói với tôi, “Chuyện to đoành trong những cuộc nói chuyện với người Hoa Kỳ là dân chủ và nhân quyền.” Người Việt sống trong nỗi lo sợ rằng áp lực từ Quốc Hội, truyền thông, và các tổ chức phi chính phủ có thể một ngày nào đó làm White House bán đứng họ như đã bán đứng những nước Châu Á độc tài: Uzbekistan và Nepal, ví dụ vậy. “Điều quý nhất phải là sự đoàn kết quốc gia và độc lập,” Lê Chí Dũng, phó trưởng phòng Bộ Ngoại giao, nói với tôi, cố gắng giải thích triết lý chính trị của nước ông cho tôi hay. “Đất nước chứ không phải cá nhân làm anh tự do.”

Tất nhiên là sự tồn tại của chính quyền Cộng sản trong chủ nghĩa tư bản tràn lan ở Việt Nam có phần nào được lý giải bởi những nguyên do mang tính quốc gia của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ đã lãnh đạo đất nước suốt những cuộc chiến chống Pháp, Mỹ, và Trung Quốc. Hơn nữa, như Tito ở Yugoslavia và Enver Hoxha Albania, Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo nội địa, không bị đặt vào vị trí lãnh đạo bởi một đội quân xâm lược. Người Việt Cộng đã lợi dụng những sự tương đồng giữa “Tư tưởng Hồ Chí Minh” và Đạo Khổng về mặt gia đình và chính quyền. “Chủ nghĩa quốc gia được xây dựng từ Đạo Khổng,” Lê Chí Dũng thuộc Bộ Ngoại Giao nói. Neil Jamieson, tác giả của Understanding Vietnam (1993), viết rằng “đặc tính chung của người Việt về sự 'chuyên chế,'” một giả định của “có phần cơ bản, trật tự đạo đức xác định về thế giới.” Đặc trưng này hệ quả là liên quan đến ý tưởng chính nghĩa, điều mà có thể dịch thoáng là nghĩa vụ xã hội đối với gia đình và sự đoàn kết của nhóm.

Có một lý do khác chủ nghĩa Cộng sản tồn tại ở đây là phần căn bản nhất của nó đang dần biến mất. Người Việt đang ở tình trạng tương tự như người Trung Quốc: họ bị cai trị bởi Đảng Cộng sản có đủ thứ ngoại trừ từ bỏ Chủ nghĩa Cộng sản. Họ đã chấp nhận một khế ước xã hội ngấm ngầm là họ đồng ý sẽ không phản đối quá lớn tiếng chừng nào đảng còn bảo đảm mức thu nhập cao hơn. Tất nhiên là những nhà cai trị của Việt Nam không thể rút cục bị xa lánh như của Trung Quốc vì họ đã thử nghiệm: làm giàu tư bản trong khi đất nước vẫn bị lãnh đạo bởi Đảng Cộng Sản.

Trong một phần tư thế kỷ, Việt Nam đã đi từ tem phiếu đến có thặng dư gạo nhiều nhất trên thế giới. Nó vừa gia nhập, về mặt thống kê mà nói, các nước có thu nhập trung bình thấp với mức GDP bình quân 1100 USD mỗi đầu người. Thay vì có một lãnh đạo có tất cả quyền, nhưng có phần kém hiệu quả, với chân dung được in trên các pa nô như trong trường hợp của Tunisia, Ai Cập, Syria, và những nước Ả Rập khác, bộ ba chuyên chính của Việt Nam — chủ tịch đảng, chủ tịch nước, và thủ tướng (*) — đã điều hành đất nước với trung bình 7 phần trăm tăng trưởng GDP mỗi năm trong vòng hơn một thập niên vừa qua. Ngay cả khi ở đáy của cuộc Đại Khủng Hoảng vào năm 2009, kinh tế địa phương tăng trưởng 5.5 phần trăm. “Đây là một kỷ lục ấn tượng trong việc giảm nghèo trong lịch sử thế giới,” một nhà ngoại giao phương Tây cho hay. “Họ đã đi từ xe đạp đến xe máy.” Điều đó, đối với người Việt Nam, có thể là dân chủ. Và ngay cả nếu đó là không phải, ta có thể nói rằng các chế độ chuyên chính của Việt Nam và Trung Quốc đã không lấy đi của dân chúng nhân phẩm theo cách mà những chế độ ở Trung Đông đã làm. “Các nhà lãnh đạo ở Trung Đông nắm quyền quá lâu và duy trì tình trạng khẩn cấp cho hàng chục năm,” một cựu lãnh đạo cấp cao của Việt Nam nói với tôi. “Không có chuyện đó ở đây. Thế nhưng chúng tôi có những vấn đề của tham nhũng, cách biệt khủng khiếp trong thu nhập, và nhiều người trẻ thất nghiệp như các nước Trung Đông.”

Điều làm Đảng Cộng Sản Việt Nam sợ là không hẳn là ám ảnh của Mùa Xuân Ả Rập mà là cuộc nổi dậy của sinh viên ở Trung Quốc vào năm 1989 khi mà lạm phát ở Trung Quốc cao gần như ở Việt Nam cho đến gần đây và tham nhũng và nạn con ông cháu cha bị dân chúng xem là ngoài vòng kiểm soát — đó là trường hợp của Việt Nam ngày nay. Và dẫu vậy, các đảng viên cũng lo ngại rằng cải cách chính trị có thể đưa họ đi đến con đường của trước 1975 ở Nam Việt Nam mà chính quyền yếu kém và bè phái dẫn đến sự sụp đổ chính phủ; hoặc Trung Quốc vào thời kỳ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 với chính phủ trung ương yếu kém dẫn đến ngoại bang đô hộ. Các quan chức Việt Nam ngưỡng mộ Singapore ra mặt, một quốc gia độc đảng mà điều hành chính phủ với kỷ luật và trong sạch .

Trong khi đó thì các nhà lãnh đạo của Việt Nam sẽ tiếp tục đi theo phong cách Phổ của họ, các chính sách kinh tế tư bản của họ, và kiểm soát chính trị chặt chẽ của họ để duy trì độc lập quốc gia đối với Trung Quốc. Họ biết rằng, không như những nước của Mùa Xuân Ả Rập, đất nước của họ đương đầu với đối thủ bên ngoài, cho dù tương đồng về tư tưởng, mà mối đe dọa ngoại xâm làm thuyên giảm những ước muốn của dân chúng về tự do hơn về chính trị. Thế nhưng như các nhà lãnh đạo của Ấn Độ, các nhà lãnh đạo Việt Nam thận trọng về bất cứ một thỏa thuận hiệp ước chính thức với Hoa Kỳ. Tất nhiên là nếu điều bắt buộc cần có một hiệp ước phòng thủ với Hoa Kỳ phải đến thì điều đó cho thấy tình hình an ninh ở Biển Đông đã trở nên mất ổn định. Trong trường hợp nào đi nữa, số phận của Việt Nam, và khả năng của nó để không bị Phần Lan hóa bởi Trung Quốc, sẽ cho thấy nhiều về khả năng của Hoa Kỳ phô diễn sức mạnh ở Thái Bình Dương và trên toàn thế giới ở thế kỷ 21 cũng như định mệnh của Việt Nam ở thế kỷ 20.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Hoan hô bác Dương Trung Quốc!


SGTT.VN 
Thảo luận ở hội trường về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011; việc triển khai nội dung này trong những tháng đầu năm 2012, đại biểu Dương Trung Quốc đã đọc một bài phát biểu vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường của tầm nhìn mỗi “nửa năm” theo các bản báo cáo tương ứng với thời gian ấy của Chính phủ. Với góc nhìn của một đại biểu thâm niên, ông phân tích trách nhiệm Chính phủ trong việc điều hành ở tầm vĩ mô, gắn trách nhiệm này với trách nhiệm giám sát của chính Quốc hội. Sài Gòn Tiếp Thị xin giới thiệu bài phát biểu này.

Qua những năm tham gia Quốc hội, tôi nghiệm thấy rằng: Một Quốc hội như thế nào thì sẽ có một Chính phủ như thế nấy.

Ta có thể đặt ra những câu hỏi: Vì sao đất nước đã hoà bình gần 40 năm mà con đường huyết mạch số một hay hệ thống đường sắt vẫn gần như thời kỳ Tây cai trị? Ảnh: Phan Quang
Phương thức hoạt động của Quốc hội chúng ta là cứ nửa năm triệu tập một kỳ họp và nghe một bản báo cáo với nội dung chủ yếu là nhìn lại sáu tháng vừa qua để hướng tới mục tiêu sáu tháng tiếp theo. Thời điểm họp vào cuối tháng 5 và cuối tháng 10 mỗi năm thật lỡ dở để có dịp nhìn lại trọn vẹn từng năm... Cứ tập trung vào bản báo cáo sáu tháng một lần thì thật khó có thể nhận dạng được bức tranh toàn cảnh của đất nước.

Với tầm nhìn mỗi “nửa năm ấy”, những bản báo cáo của Chính phủ chỉ nêu lên những việc đã làm như những thành tựu đã đạt được – đưa ra một số sai sót, yếu kém gắn với những vấn đề nổi cộm mà dư luận đang quan tâm, rồi đưa ra những giải pháp thường ngắn hạn và ít mới mẻ.

Để ngắm một bức tranh toàn cảnh cần có một độ lùi về không gian và cả thời gian. Hoàn cảnh cho tôi, đến nay đã được dự khoảng 20 phiên và đọc chừng 20 bản báo cáo của Chính phủ, để bằng cảm quan nghề nghiệp của mình, nhận ra cái mạnh và cái chưa mạnh của Chính phủ.

Cái mạnh nhất của Chính phủ là “khả năng ứng biến”, “năng lực giải quyết tình huống”. Phải chăng đây là sự kế thừa của một truyền thống hình thành trong thời chiến. Năng lực ấy đã phát huy tác dụng tích cực khi chúng ta thực hiện một mục tiêu chính nghĩa, một đường lối đúng đắn, có sự hậu thuẫn về ý chí của toàn dân, lại có tầm nhìn sáng suốt của người đứng đầu .

Cái mạnh ấy, đã giúp Chính phủ cứ sáu tháng một lần lại vượt qua được những thử thách của thực tiễn, đạt được những mục tiêu ngắn hạn và cũng vượt qua được một kỳ họp cũng là một kỳ chất vấn của Quốc hội để rồi lại dấn thân phấn đấu cho sáu tháng tiếp theo. Vì thế những thành tựu ấy khó bền vững và những khuyết điểm, yếu kém của Chính phủ luôn lặp lại gần như là một điệp khúc không mấy thay đổi qua các báo cáo.

Nói như vậy, tôi hoàn toàn không phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ cũng như chia sẻ những khó khăn khách quan mà cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính toàn cầu cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền rất phức tạp mà Chính phủ đang phải gánh vác. Và nói như vậy cũng không có nghĩa là xem thường năng lực ứng phó và giải pháp tình huống...

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, nhưng theo tôi nguyên nhân đáng quan ngại nhất là năng lực “lắng nghe” của Chính phủ. Quốc hội có trách nhiệm trong chuyện này.
Nhưng chỉ như thế thì không đủ

Một trong những chức năng quan trọng cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của Chính phủ phải là điều hành đất nước ở tầm vĩ mô. Vĩ mô vừa mang nội hàm về không gian (to lớn) lẫn thời gian (lâu dài).

Ta có thể đặt ra những câu hỏi: Vì sao đất nước đã hoà bình gần 40 năm mà con đường huyết mạch số một hay hệ thống đường sắt vẫn gần như thời kỳ Tây cai trị?

Vì sao lĩnh vực công nghiệp hoá, hiện đại hoá luôn được coi là mục tiêu chiến lược và được Chính phủ đầu tư nhiều nhất, trong đó, đặt vai trò động lực hàng đầu cho các tập đoàn nhà nước lại là lĩnh vực kém thành công nhất. Để nhắc đến một thương hiệu hay một sản phẩm công nghiệp đáng để cho thế giới biết đến dường như chưa có! Còn nhắc đến con số những thất thoát ngân sách khổng lồ gắn với những đổ vỡ của một vài tập đoàn như Vinashin, Vinalines thì có ai không xót ruột...!

Trong khi đó, như chúng ta vừa thảo luận về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thì chính những người nông dân, ngư dân vốn ít được sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, thậm chí phải chịu đựng nhiều rủi ro không chỉ của thiên tai mà của cả những sai sót trong điều hành của Chính phủ, lại làm nên những thành tựu, những thương hiệu hơn hẳn công nghiệp. Nó cho thấy trên nhiều lĩnh vực quan trọng, thực tiễn đã vượt qua sự chủ động trong tầm nhìn và tầm tay quản lý của Chính phủ?

Một trong những chức năng quan trọng cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của Chính phủ phải là điều hành đất nước ở tầm vĩ mô. Vĩ mô vừa mang nội hàm về không gian (to lớn) lẫn thời gian (lâu dài). Nếu cứ như hiện nay, Chính phủ không đáp ứng được mong muốn của nhân dân ngày càng có năng lực thể hiện quyền dân chủ của mình mà hoạt động của Quốc hội có trách nhiệm phải đáp ứng.
Một ví dụ nữa, đội ngũ cán bộ công chức được tuyển chọn, đào tạo, trong đó dường như ai cũng được bồi dưỡng những khoá học về “quốc phòng toàn dân”, mà vẫn để hiện tượng sử dụng lao động người nước ngoài, cho thuê đất rừng hay khai thác khoáng sản và gần đây nhất là nuôi hải sản ở ngay những vị trí trọng yếu của an ninh quốc gia vượt ra ngoài tầm kiểm soát của bộ máy nhà nước?

Nhìn bản đồ quốc gia, chúng ta sẽ thấy không ít sự bất hợp lý và lãng phí, hệ quả của mối quan hệ giữa Chính phủ Trung ương và chính quyền các địa phương bị chi phối bởi tầm nhìn cục bộ cũng như sự thoả hiệp của mối quan hệ xin – cho. Cần nhấn mạnh rằng mối quan hệ xin – cho đang ngày càng trầm trọng và gây tác hại lớn nhất cho việc điều hành đất nước, phá hoại những giá trị xã hội, đã tạo nên hiện tượng đáng quan ngại không chỉ là các vụ tham nhũng và thất thoát lớn đã được phát hiện hay không thể phát hiện, mà còn là hiện tượng đã được thừa nhận là “tham nhũng vặt”.

Trong khi đó, đối với nhân dân, chính bộ máy công quyền ấy lại phải chăng quá khắt khe cảnh giác để rồi hành xử có phần vụng về, thô bạo đối với một bộ phận nhân dân, làm phương hại đến hình ảnh của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân mà chúng ta đang phấn đấu. Chỉ số lòng tin của dân đối với Chính phủ chưa khi nào được quan tâm tính đếm, nhưng chắc chắn không như chúng ta mong muốn.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế ấy, nhưng theo tôi nguyên nhân đáng quan ngại nhất là năng lực “lắng nghe” của Chính phủ. Nhìn lại một chặng thời gian dài hơn mỗi kỳ họp, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều vấn đề đã được cảnh báo đến từ phát biểu của nhiều nhà khoa học hay hoạt động xã hội, trong đó có những đại biểu Quốc hội, từ rất nhiều cuộc hội thảo, đề tài nghiên cứu... mà Chính phủ chậm tiếp thu để rồi thực tiễn chứng minh những lời cảnh báo ấy đã trở thành hiện thực. Năng lực lắng nghe bị hạn chế phải chăng do Chính phủ chưa tin vào dân, vào những người không nằm trong bộ máy tư vấn gần gũi của Chính phủ, hay còn vì “lợi ích nhóm”?

Trong những hạn chế của Chính phủ ấy có trách nhiệm của Quốc hội. Vì sao khi thảo luận về “luật Phòng chống tham nhũng”, nhiều vị đại biểu Quốc hội và dư luận xã hội đã can rằng không nên giao trách nhiệm đứng đầu cơ quan này cho cơ quan hành pháp, thế mà chính Quốc hội chúng ta lại thông qua luật để tới nay phải sửa lại? Vì sao từ nhiệm kỳ trước tại Quốc hội, tôi đã thấy có vị đại biểu nêu lên sự cần thiết phải xây dựng luật nhằm quản lý và phát huy vốn của Nhà nước, mà Quốc hội vẫn chưa tiếp thu? Vì sao khi xảy ra những vụ việc như ở Tiên Lãng (Hải Phòng), Văn Giang (Hưng Yên)... chẳng thấy Quốc hội sớm vào cuộc? Tại sao xảy ra hiện tượng người Trung Quốc vào nuôi cá ngay kề địa bàn quân sự ở Cam Ranh, người phát hiện lại chỉ là báo chí? Tất cả các bản báo cáo ngân sách Chính phủ trình, Quốc hội đều... cho qua, thì sự thất thoát ngân sách lớn như thế có trách nhiệm của Quốc hội không? Thưa Quốc hội, nói đến Quốc hội, tôi cũng ý thức rằng trong đó có cả chính mình.

Từ những ý kiến trên, tôi kiến nghị: các bản báo cáo mỗi kỳ họp Quốc hội của Chính phủ, ngoài phần báo cáo như cách viết hiện nay, Quốc hội cần hướng việc giám sát vào những vấn đề nổi bật gắn với tầm điều hành vĩ mô của Chính phủ, để thấy những tiến bộ của Chính phủ sau mỗi kỳ họp thông qua những đánh giá việc thực hiện những mục tiêu lớn và dài hạn.

Xin nhắc lại lời của người xưa đúc kết về thuật trị nước. Đó là câu đối “nhắc nhở” của một viên quan thời Hậu Lê (Hoàng Ngũ Phúc) vào một thời kỳ lịch sử rối ren: “Nước lấy dân làm gốc, lúc bình yên, nước hãy để dân yên – Dân lấy nước làm lòng, khi hữu sự, dân sẽ ra gánh vác”.

Thử đặt ra một câu hỏi, vào thời điểm này, “khi hữu sự”, liệu dân có ra gánh vác như những thời kỳ đầy thử thách trong quá khứ lịch sử hào hùng hay không? Đặt lòng câu hỏi ấy, Chính phủ sẽ thấy nhiều việc cần làm.

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012

Chuyện: " Cái sự học bên ta"


Chuyện học bên ta: Biết rồi…khổ lắm, nói mãi

Báo chí nói quá nhiều đến cải cách giáo dục, kêu gọi từ ý kiến của người dân đến trí thức. Nói chuyện với một số bạn trong ngành giáo dục sẽ thấy, viết về cải cách dễ, nói dễ, bàn tới bàn lui dễ, ra nghị quyết dễ, nhưng làm…khó. Người viết bài này từng làm “giáo sư” một thời gian ở Đại học Thăng Long nên cũng hiểu tại sao.

Đứng trước bảng đen, bụi phấn bay mù, học sinh ngủ gật gù, thầy nói khản cả giọng, trời nóng hầm hập, điện đóm phập phù thì chỉ muốn lật giáo án cho nhanh. Mỗi tiết 60 phút thì bớt đi 10 phút hay gộp hai tiết liền để còn chạy sô. Thầy trò nào chả mong trống trường.

Hỏi các em có muốn nghỉ sớm không, cả lớp giơ tay và hò reo, kể cả khi nghe thầy, cô ốm… Học sinh trốn học là vì đến trường chán quá, lại cái ông thầy, “lão” rồi mà chưa vợ, nên hâm hâm, toàn bắt chẹt học trò, ngồi khoanh tay để trên bàn hay cấm cãi.

Thầy “cáo cụ” ra bài tập và bắt các em lên bảng để câu giờ. Học trò cũng khôn chán, chúng cử một đứa giỏi làm vèo vài phút là xong. Thế là thầy chịu, đành nói tiếp để chúng còn…ngủ.

Tại sao thế? Vì cách dạy và học của chúng ta là thầy nói, thầy đọc, trò nghe, trò ghi, trò học thuộc lòng, trò thi lấy điểm và khi ra đời…trò quên. Chuyện này ai cũng biết rồi…khổ lắm, nói mãi. Năm này qua năm khác, người đòi cải cách cứ việc kêu gào, người đứng trên bục giảng và sỹ tử ngồi nghe vẫn như xưa.

Sự học bên Tây: Vui như tết

Tôi có anh bạn có con học ở Mỹ. Anh bạn email kể về “sự học”, mới nghe tôi thấy cũng chướng vì nghĩ anh ta khoe khoang dị hợm. Nhưng vài cái mail, tôi thấy hay hay nên chép lại cho độc giả tham khảo.

Cái trường con anh ta học ngay gần nhà, lại thuộc “xã” bên nên anh muốn cho “thằng cu” vào đó cho tiện. Lúc xin chuyển trường trái tuyến chỉ mong như ở Việt Nam, làm cái phong bì cho cô hiệu trưởng thế là xong.

Nhưng bên Mỹ thì trời ơi, bao nhiêu thủ tục giấy tờ, hối lộ thì đi tù. Trái tuyến xe bus không đón đưa mà mình lại không đút lót được tài xế. Những lúc ấy thấy cho trẻ đi học ở Việt Nam sướng thế (!)

Lúc con vào học rồi anh mới ngỡ ngàng, bên đây không có sách giáo khoa. Thầy cô “tự nghĩ” ra giáo án của mình. Mỗi hôm vài tờ photocopy trong cặp bọn trẻ. Làm toán thì như vẽ hươu vẽ vượn, trong khi môn vẽ thì tha hồ sáng tạo. Hai thằng con nhà anh chỉ biết đến siêu nhân, tầu thủy, máy bay nên vở chằng chịt toàn cảnh đánh nhau kiếm súng, máu đỏ tung tóe. Thế mà cô toàn cho điểm good (tốt).


“Nếu em là hiệu trưởng…” của hs lớp 2. Ảnh: HM
Anh bạn tôi đau khổ nhất là mỗi tuần có một bài văn luận cho thằng cu lớp 2. Có bài ra như sau “Nếu em là hiệu trưởng thì em sẽ làm gì hôm thứ hai?” hay “Em thức dậy buổi sáng thấy mình bé như cái kẹo thì em sẽ thế nào?”. Thằng bé chịu, hỏi ông bố.

Bố nó đã làm hiệu trưởng bao giờ đâu nhưng cũng bịa, sáng thứ hai thì đến phải chào mọi người, xem công văn (Mỹ làm gi có công văn) và đi vòng quanh trường xem có trộm cắp gì không (trộm cắp Mỹ không tới trường học, ăn gì ở đó). Thằng con cứ thế chép vào vở theo kiểu câu cú nó nghĩ ra.

Bài “cái kẹo” thì ông bố hỏi vặn thằng con, bé như cái kẹo thì cái giầy của con như thế nào, ăn sáng mất nhiều không. Ông tướng con gật gù và thán phục lắm. Đoạn sau nó tự nghĩ ra và viết vào vở.

Không ngờ đến lớp cô giáo cho điểm cao nhất vì có trình độ…sáng tác. Chả hiểu ở lớp có nhiều học sinh được điểm cao như thế không. Có lẽ điểm này là chấm cho ông bố chứ không phải thằng con.

Bé tý mà học sinh, đứa nào cũng có một cuốn vở ghi những cuốn sách truyện đã đọc trong tuần. Mỗi tối phải đọc 15-20 phút truyện rồi mới lơ mơ, ngáp và “Good night, dady”.

Mãi sau bạn tôi đi họp phụ huynh, cô giáo mới bật mí là những bài kiểu đó cần có gia đình tham gia và cũng là cách kiểm tra xem ở nhà bố mẹ có quan tâm đến học hành của trẻ. Cô dạy ở lớp, bố mẹ cùng con học ở nhà và đó chính là gia đình và nhà trường cùng tham gia vào giáo dục, xây dựng nhân cách cho đứa trẻ, dạy chúng tự tư duy, tìm tòi và sáng tạo.

Thấy con mình chỉ một ít điểm khá, còn lại toàn trung bình nên anh lo lắm. Đến báo cô giáo là gia đình bắt các cháu học thêm ở nhà. Cô gạt đi, các cháu đã học từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều, thế là đủ lắm với một đứa trẻ. Nếu có bài tập về nhà thì chỉ làm trong 15 phút. Đọc truyện thì thoải mái. Nhưng học thêm nhồi nhét thì nhà trường không khuyến khích, vì trẻ sẽ chơi vào lúc nào?

Đi học về anh bạn hỏi, ở lớp làm những gì, vở chép của con đâu? Thằng con trợn tròn mắt, chép cái gì hả bố, toàn là tick tick (đánh dấu đúng sai) vào bài tập (trắc nghiệm). Thỉnh thoảng phải tóm tắt câu chuyện đọc trên lớp qua những câu hỏi và trả lời trên một trang giấy không dòng kẻ, chữ như gà bới. Thích viết tay trái, tay phải tùy. “Vẽ” chữ xuôi ngược cũng được.

Bọn trẻ nhà ấy từ bé đi học mẫu giáo đến nay là lớp 3 rồi, ngày nào phải nghỉ học là chúng tiếc lắm. Chúng bảo, ở lớp được “tranh luận” bố ạ. Câu chuyện đọc lên, các câu hỏi được đặt ra. Cô giáo chả phải nói mấy, toàn bọn con tự học, tự tranh cãi và tự cho điểm, vui như tết. Cả lớp quanh vài cái bàn tròn, tha hồ “đấu khẩu”…

Có lẽ bọn trẻ được tham gia vào “giảng dạy” nên thời gian mới qua nhanh thế. Là người trong cuộc nên chúng cảm thấy thú vị. Học mà chơi và chơi mà học có thể là thế chăng?

Thay đổi tận gốc hay hãy thay trên ngọn một tý?

Học như dân ta thì thi Olympic dễ được giải cao, thi vào các trường đại học dễ đỗ và ra đời có bằng cấp. Nhưng bằng cấp cao mà mặt bằng xã hội không cao. Có phải ai cũng đi đại học đâu, chả lẽ 85 triệu dân toàn là giáo sư, lấy ai quét rác, đào cống, xây cầu.


Cu Luck học hè ở James Town (2011). Ảnh: HM
Có lẽ vì thế các nền giáo dục văn minh thường hướng theo cách dạy trong trường sao cho đứa trẻ học để ra đời biết cách tự học tiếp. Có thể không có bằng cấp gì nhưng vì biết tự học, tự tìm hiểu thì gặp chuyện gì khó khăn con người ta sẽ biết tìm lối thoát. Ở ta, gọi là “giải quyết những vấn đề từ thực tiễn”…

Nước Nhật sau 30 năm chiến tranh đã trở thành cường quốc kinh tế vì đơn giản họ rất coi trọng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, hướng tới dạy con người cách suy nghĩ, sáng tạo và tự học trong suốt quãng đời còn lại sau khi ra trường.

Có 20.000 tiến sỹ, gấp đôi hay gấp ba thế nữa, nhưng cả dân tộc 85 triệu người không biết cách tự học sau khi ra trường thì coi như chiến lược giáo dục đã thất bại.

Có lẽ cách giáo dục trên của Mỹ nhằm tạo ra đứa trẻ có trí thông minh, biết xử lý tình huống hợp lý hơn là một cậu học sinh, tinh thông kim cổ, nhưng lóng ngóng không biết luộc quả trứng lòng đào hay rửa cái bát cho sạch.

Kêu gọi thay đổi giáo dục tận gốc thì cao siêu quá. Thay gốc thì ai sẽ làm cái gốc tiếp theo đây. Để rồi khi vào ngồi vào ghế của Bộ trưởng Bộ GD hay đứng trước giảng đường mới thấy cái gốc mới ấy cũng khó nhằn.

Tuy vậy, thay đi chút trên ngọn, giáo dục không hướng tới bằng cấp mà dậy cho thế hệ trẻ biết cách tự học. Biết đâu mình lại vượt Mỹ cũng nên vì dân ta vốn thông minh và nhanh nhẹn hơn người.

TB: 
Có một cậu em , kinh tế gia đình rất tốt , thừa sức cho con học từ mẫu giáo ở trường Tây , nhưng lại chuyển con về làng quê hẻo lánh sát biển miền Trung học trường làng , trẻ con hàng ngày tự đi học , hết giờ học là đi chơi với đám trẻ trong làng. Hai đứa trẻ hết sức hạnh phúc , khỏe mạnh, vô tư và hồn nhiên. Tư duy của bố mẹ chúng là đằng nào cũng cho bọn nó đi du học lúc 14-15 tuổi , thỉ việc gì phải ép chúng từ nhỏ. Có lẽ cũng là mội giải pháp

Thứ Hai, 21 tháng 5, 2012

Nhẹ bẫng 100.000 tỷ, chớp mắt 36 người chết!


Chuyện kể rằng tại Zimbabwe, các học sinh đã bĩu môi về những sông băng cổ đại 700 triệu năm tuổi, vì tờ tiền 100.000 tỷ của nước này đã khiến các em nghĩ khoảng thời gian đó chả là cái thá gì.
Phong độ khí khái của các học sinh xứ người dĩ nhiên là lạ và dù sao cũng thật đáng ngưỡng mộ, nhưng trong một chừng mực nào đấy, người Việt chúng ta có quyền nhếch miệng cười nhạt: đồ con trẻ!  Không tin ư? Hãy nhìn vào mặt báo hôm qua và hôm nay thì sẽ biết.

Một trong những thông tin đáng chú nhất trong ngày đến từ Vinalines, Tổng Công ty vừa trở nên nổi tiếng thời gian gần đây với đề án hiện đại hóa đội tàu.

Nay, một quả bom thông tin nho nhỏ đã nổ trên mặt báo: Ông Dương Chí Dũng, nguyên Chủ tịch HĐTV Vinalines bị khởi tố.

Chẳng cần phải nhắc lại những ồn ào lâu nay xung quanh Tổng Công ty này, nhưng người ta lại hết sức quan tâm tới chức vụ hiện tại của ông nguyên Chủ tịch: Cục trưởng Cục Hàng hải.

Một thông tin đáng đọc khác: Ông Nguyễn Ngọc Huệ, nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải hiện là đương kim Chủ tịch Vinalines.

Việc 2 cái ghế được hoán đổi cho nhau kể cũng hết sức bình thường và sẽ chẳng ai thắc mắc lấy một lời, nếu người ta không nhìn kỹ lại những cái mốc thời gian.

Tháng 2/2012, ông Dương Chí Dũng nhận chức Cục trưởng, trong khi ông Nguyễn Ngọc Huệ trở thành Chủ tịch Vinalines. Tháng 4/2012, Đề án công nghiệp hóa-hiện đại hóa được Bộ Giao thông phê duyệt, trong đó dự kiến khoản đầu tư 100.000 tỷ đến năm 2020 để Vinalines hiện đại hóa đội tàu.

Hẳn độc giả sẽ hết sức thú vị nếu biết thêm thông tin về cơ quan chức năng nào của Bộ Giao thông vận tải làm nhiệm vụ tham mưu cho Bộ về khoản đầu tư nói trên. Theo thông tin từ chính Cục Hàng hải, chức năng, nhiệm vụ số 1 của Cục là chủ trì xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, dự án quốc gia, các đề án phát triển thuộc ngành hàng hải trong phạm vi cả nước.

Chưa khẳng định được việc tham mưu từ phía Cục có tác động như thế nào đến quyết định của Bộ, và qua 2 đời Cục trưởng ai là người tham mưu về khoản đầu tư 100.000 tỷ kia, liệu có vì chút “động cơ” cá nhân nào không, nhưng cứ tưởng tượng, sau khi chèo lái con tàu Vinalines tuyệt vời đến nỗi nó nghiêng ngả sắp chìm, mà vị thuyền trưởng ấy lại được điều về đứng đầu cơ quan tham mưu, ban hành chính sách, thì kỳ diệu để đâu cho hết.

Ngoài ra, người ta còn phải tấm tắc khen ngợi cái số đỏ trong lá số tử vi của ông Cục trưởng nữa, vì trước khi về lãnh đạo Vinalines, ông đã quản lý Tổng Công ty xây dựng đường thủy (Vinawaco). Đơn vị này đã thua lỗ nặng, ấy vậy mà ông vẫn được đề bạt làm lãnh đạo một doanh nghiệp chiếm 45% tổng trọng tải đội tàu biển quốc gia, ai dám bảo “phúc bất trùng lai”?

Quay trở lại câu chuyện của cái xứ Zimbabwe kỳ cục kia, nghe nói các giáo viên của họ đã phàn nàn rằng việc in ấn tiền tới ngàn tỷ đã làm lệch lạc nhận thức của học sinh về toán học, khiến chúng mất cảm giác về độ lớn, bé của các con số.

Hồi trước, nghe cánh nhà báo kể lại chuyện này, nhiều người tưởng chuyện đùa, nhưng đến giờ thì nhất định một lượng độc giả kha khá đã phải ngã ngửa người mà tặc lưỡi lo xa rằng rồi đến lúc mình cũng bị đơ đơ như thế mất thôi.

Mà nói có sách, mách có chứng, sau khi bị dư luận mè nheo, Vinalines đã xin giảm khoản đầu tư xuống còn 68.000 tỷ, thế là chỉ sau có mấy hôm tính toán nghiêm túc, các bác ấy chả cần cóc gì 32.000 tỷ nữa. Ấy đấy, hàng chục nghìn tỷ mà cứ nhẹ như lông hồng, trách làm sao được dân tình bị mất cảm giác về… tiền!

Dẫu vậy, bạn cũng không nên quá ưu sầu về một tương lai “khí trơ” trong sức khỏe tâm thần người dân, bởi cũng trong ngày cuối tuần, một con số dù chỉ dừng lại ở hàng chục nhưng cũng khiến bao người phải đầm đìa nước mắt.

Sáng nay, thông tin về vụ tai nạn trong đêm khiến 34 rồi 36 người chết tại Đắk Lắk đã tràn ngập các báo điện tử, phủ một không khí ảm đạm và tang thương trong khắp cộng đồng mạng trước kỳ nghỉ cuối tuần.


34 người đã chết tại chỗ!
36 người đã chết, trong đó, phần nhiều là những chàng trai, cô gái tuổi mười tám, đôi mươi, có người một tiếng trước vừa rời vòng tay cha mẹ để trở lại trường đại học. Dù nông nổi đến mấy, người ta cũng phải gạt nước mắt mà thừa nhận, đấy là những cái chết đầy oan uổng. Ai cũng biết, chiếc xe rơi từ độ cao hàng chục mét xuống sông, nhưng, tai nạn thì không phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống.

Chưa rõ các cơ quan chức năng sẽ đưa ra kết luận như thế nào về nguyên nhân tai nạn, nhưng cứ giả sử lái xe, nhà xe phải chịu trách nhiệm chính, thì người dân cũng sẽ cảm thấy thật khó mà ngủ cho ngon, nếu các cán bộ trong bộ máy công quyền vẫn có thể kê cao gối.

Nói thế để thấy rằng, trước một vụ việc – cho dù có là tai nạn đi chăng nữa – khiến hàng chục người phải chết oan uổng, có lẽ công việc của các cơ quan chức năng không chỉ là tìm ra nguyên nhân tai nạn, và nếu như nó thuộc về một người đã chết, thì mọi việc chấm dứt ở đấy.

Lý lẽ chỉ giản dị như thế này thôi: Nếu bất kỳ người dân nào cũng biết mình cần phải làm gì, được làm gì, không được làm gì và nên làm gì, thì cuộc đời này đâu cần sự tồn tại của các cơ quan chức năng?

Đến đây, người viết chợt nhớ lại một cái tít báo của Sài Gòn Tiếp thị cách đây nửa tháng, khi nói về kết quả khảo sát Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh. Chẳng biết nhà báo khen hay chê khi đánh giá “Người dân có sức chịu đựng lớn với tham nhũng”, nhưng càng ngày càng thấy, nói thế vẫn còn quá nhiều thiếu sót.

Cứ phải khẳng định chắc như cua gạch là ngoài tham nhũng, người dân ta còn giỏi chịu đựng rất nhiều thứ khác nữa. Kể sơ sơ sẽ thấy thịt bẩn, bệnh lạ, cháy xe, xăng dỏm, hết lạm phát đến giảm phát…, bao nhiêu chữ nghĩa cho vừa với thực tế sống động.

Riêng cái chuyện tai nạn giao thông mà ta đang bình loạn đây, nghe đâu mỗi năm cũng “hy sinh” tương đương một sư đoàn cũng đã đủ thấy hóa ra lúc bốn phương phẳng lặng mà hiểm nguy cũng rập rình chả kém gì thời cha ông ta đánh giặc giữ nước. Nói đâu xa, cũng hôm nay tại Bình Dương, một vụ tai nạn ô tô đã cướp đi mạng sống của 3 người.

Trong khi chữ “lạ” được dùng ngày càng vô tội vạ với những vụ việc chưa tìm ra được nguyên nhân (mà lẽ ra người ta phải có trách nhiệm tìm thấy), như thể nó rơi từ trên trời xuống vậy, thì người dân cũng cảm thấy hình như mình “quen” dần và chấp nhận sống chung với lũ. Một trăm nghìn tỷ không thấy nó bự như hồi xưa, 34 người chết cũng không phải là ghê gớm lắm...

Trong một ngày có hai cái tin còi liên quan đến ngành giao thông như vậy, chẳng biết các cán bộ của ngành có thể yên giấc hay không, hay họ còn mải đánh đàn ghi ta và hát về những người đi tìm lửa?

Tin vui trong ngày đến từ một con cá lóc, mà trớ trêu thay nó lại xuất hiện ở Đắk Lắk, nơi vừa xảy ra vụ xe khách rơi sông. Theo các báo, trên đầu nó xuất hiện 18 chữ Hán, mà nghe đâu được dịch thành toàn những từ tưởng đâu đến từ thiên đường: “Nắng mưa tương đồng”, “mọi người, mọi loài hưng thịnh phát triển”, “ánh trăng đẹp khi mặt nước yên lặng”, “hỷ và phúc”.

Chả biết có phải vì cái sự “lạ” này nó quá tốt lành đến mức hiếm hoi mà dân tình đổ xô đi xem để tìm phần nào yên ủi hay không?, nhưng báo Nông Nghiệp điện tử hôm nay giật một cái tít, rồi sau được trang Báo Mới đưa lên vơ đét: Ông Chủ tịch huyện ơi, sao dân khổ thế này!

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Photography and the Art of Seeing


Tác giả: Freeman Patterson 
Người dịch: Đặng Quang Hiếu 

Lời giới thiệu của người dịch: 
Đây là một cuốn sách khá đặc biệt về nhiếp ảnh. Đặc biệt ở chỗ nó không dạy những kĩ thuật chụp ảnh thông thường, cũng không giới thiệu những mẹo (tiểu xảo) chụp ảnh hay những “chiêu” Photoshop mà có thể rất nhiều người luôn háo hức tìm kiếm. Cuốn sách này nói về khả năng “thấy” như một kỹ năng đầu tiên và quan trọng nhất trong nhiếp ảnh nói riêng, và tất cả những thứ “visual arts” nói chung, và về những phương pháp, những bài thực hành cụ thể nhất nhằm phát triển khả năng này. 
Việc phát triển và hoàn thiện khả năng “thấy” sẽ giúp các nhiếp ảnh gia luôn có thể tự làm mới bản thân, luôn “thấy” các chủ thể nhiếp ảnh của mình một cách toàn diện, sắc sảo và mới mẻ nhất, và trên hết, luôn sống trọn vẹn trong tỉnh thức với mọi khoảnh khắc, mọi thứ ở xunh quanh mình, dù là ở trong cuộc sống quen thuộc hàng ngày của chính họ. 
Nếu bạn đã từng tập thiền thì, theo quan điểm của người dịch, bạn sẽ thấy rất nhiều nét tương đồng giữa việc thực hành thiền và thực hành “thấy” trong nhiếp ảnh, mặc dù điều này không được trực tiếp nêu ra trong cuốn sách. Với khả năng diễn dịch và tư duy thực hành, tác giả không chỉ dừng lại ở những khái niệm, những nguyên lý trừu tượng đậm chất “thiền” mà còn đưa rất nhiều lời khuyên và những bài tập cụ thể giúp cho bạn đọc có thể ngay lập tức tham gia và sớm có được những kết quả trông thấy. http://www.viahe.org/ 
Những trở ngại trong sự thấy* 
Những buổi sáng mờ sương, cầm máy và tripod đi tới bãi cỏ sau nhà, tôi nhanh chóng quên mình đi. Tôi không nghĩ xem tôi sẽ chụp như thế nào, không nghĩ về việc thỏa mãn bản thân, và quên mình đi trong sự kì diệu của những chiếc cầu vồng hiện ra trên cỏ; trong những lăng kính rực rỡ của những giọt nước ngược sáng. Tôi đánh mất mình ở trong một thế giới của những tia sáng lấp lánh và của màu sắc lung linh. Tôi đắm chìm trong những gì tôi nhìn thấy, và kết quả là tôi có một buổi chụp ảnh cực kì năng suất và kéo dài cho tới khi sương tan hẳn. 
Buông là một điều kiện cần đầu tiên để có thể thực sự “thấy”. Khi bạn buông cái tôi của bản thân, bạn đã bỏ đi tất cả những thành kiến về chủ thể mà trước đó bạn đã nhồi nhét vào đầu mình bằng cách này hoặc cách khác. Nếu bạn còn lo lắng xem liệu bạn có chụp được ảnh đẹp không, hoặc còn cố công làm thỏa mãn bản thân, thì bạn sẽ không thể có được những bức hình tốt nhất và không thể trải nghiệm niềm vui chụp ảnh một cách đầy đủ nhất. Nhưng khi bạn buông, những ý niệm mới sẽ nảy sinh từ trải nghiệm trực tiếp của bạn với chủ thể, và những ý tưởng, cảm xúc mới sẽ tự điều khiển bạn khi chụp. 
Quá vướng bận với cái tôi là trở ngại lớn nhất trong sự thấy, và nó cũng là trở ngại khó vượt qua nhất. Bạn có thể đang lo lắng về công việc, về lũ nhóc ở nhà, về những nhiệm vụ khác, hoặc là bạn không tự tin về khả năng sử dụng một chiếc ống kính mới, hay về khả năng đo sáng của mình. Dường như luôn có một cái gì đó chặn trước con đường tới tự do đích thực. Frederick Franck trong cuốn The Zen of Seeing đã gọi cái này là “cái tôi tù túng”; quá nhiều cái tôi sẽ làm cản trở khả năng trải nghiệm trực tiếp với mọi thứ ở xung quanh bạn. Đôi khi, cách duy nhất để vượt qua sự tù túng này là thực hành. Bạn không thể thư giãn tách riêng cơ thể và tâm hồn -- bởi vì chúng có mối liên hệ khăng khít với nhau. Để có thể đẩy được sự khô cứng và căng thẳng ra khỏi cơ thể, bạn cần phải có một tâm trí hoàn toàn trống rỗng. Như là mối liên hệ giữa gió và nước vậy. Sóng sẽ không biến mất nếu như gió vẫn thổi. Thư giãn là cách để làm ngừng lại những cơn gió trong tâm trí, do vậy cơ thể bạn sẽ được tĩnh tại. 
Một trở ngại khác đối với sự thấy là do có quá nhiều thứ gây phân tâm. Chúng ta thường bị tấn công bởi rất nhiều tác nhân nên phản ứng sẽ là chặn chúng lại. Thay vì thấy tất cả, chúng ta chỉ chọn ra một vài tác nhân và tổ chức chúng lại. Sau đó, khi chúng ta đã có được trật tự trong cuộc sống của mình rồi, thì chúng ta sẽ gắn chặt mình với những thực thể mà chúng ta đã tạo ra. Rất ít khi chúng ta thử khám phá lại giá trị của những tác nhân đã bị bỏ qua, miễn là những tác nhân cũng dường như vẫn có ích. Chúng ta tạo ra tầm nhìn theo kiểu đường hầm – nhìn rất rõ những gì ở phía trước nhưng lại không nhìn thấy gì ở xung quanh ta. 
* Tiếng Anh có hai phân biệt hai từ “look” và “see” có nghĩa tương ứng là “nhìn” và “thấy” (ví dụ: bạn có thể nhìn nhưng không thấy). Trong cuốn này người dịch sẽ sử dụng và phân biệt hai từ “nhìn” và “thấy” với ý nghĩa nêu trên.  http://www.viahe.org/ 
Trở ngại lớn thứ ba là việc gắn nhãn cho những gì có vẻ như quen thuộc. Chính Monet, một họa sỹ nổi tiếng, đã nói rằng, để có thể thấy, chúng ta phải quên đi tên của những gì chúng ta đang nhìn. Hồi còn nhỏ, chúng ta thường nghĩ qua hình ảnh, thay vì ngôn từ. Nhưng khi đến trường, lối suy nghĩ này đã bị bỏ rơi. Người ta áp đặt lên chúng ta những kỹ năng phân tích cơ bản (đọc, viết và số học) và coi chúng quan trọng hơn những trải nghiệm trực tiếp qua các giác quan, do vậy chúng ta càng ngày càng ít phụ thuộc vào phần bộ não phục vụ cho tư duy hình tượng. Cho đến khoảng lớp bốn, lớp năm, rất nhiều người trong chúng ta không còn coi vẽ là quan trọng nữa, chúng ta không còn tự do hình tượng hóa sự vật, thay vào đó chúng ta gán nhãn cho chúng. Thói quen này gắn chặt tới mức, cho đến tuổi trưởng thành, cho ta luôn vôi vàng phân loại bất cứ những gì ta thấy. Chúng ta bỏ qua những khám phá hình tượng, và chẳng mấy khi tìm hiểu về vô số các mặt khác nhau của mỗi vật thể. Frederick Franck đã nói điều này rất chính xác, “với việc gán nhãn, chúng ta nhận ra tất cả, và không còn thấy cái gì nữa. Chúng ta biết được nhãn trên chai, nhưng chúng ta không bao giờ nếm thử rượu trong đó.” 
Nếu bạn nhìn vào một cây dương xỉ và chỉ nói, “vâng, đó là một cây dương xỉ,” thì bạn có thể sẽ không thấy được những gì nằm ngoài cái tên của nó. Nhưng nếu bạn thực sự thấy một cây dương xỉ, bạn sẽ để ý tới những hình tam giác, những sợi xơ lá, những sắc màu xanh khác nhau, để ý thấy nó đang xoay mình và nhảy múa trong gió. Nếu bạn đưa mắt vào gần cây dương xỉ hơn nữa, gần tới mức bạn không còn nhìn rõ nữa, khi đó cây dương xỉ sẽ là một bóng mờ màu xanh dập dờn trong khung cảnh ở phía trước. Bạn sẽ tìm được những góc cạnh, những vẻ đẹp còn ẩn giấu không nằm trong định nghĩa thông thường về một cây dương xỉ, khi bạn học cách phân biệt giữa nhìn và thấy. 
Khi xem một bức hình của một ai đó, xin hãy đừng để những cái nhãn như “cô ấy là một nhiếp ảnh gia chuyên chụp chân dung” khiến cho bạn không thấy được những bức ảnh phong cảnh tuyệt đẹp mà cô ấy đã chụp. Hãy luôn cố hiểu được nội dung tượng trưng của bức ảnh, hoặc ý nghĩa của chủ thể bức ảnh mà nhiếp ảnh gia đó muốn diễn đạt. 
Bạn đã từng để ý rằng mỗi khi trở về nhà sau một kì nghỉ, bạn trở nên nhạy bén hơn với những chi tiết trong nhà của mình? Bạn liếc nhìn quanh khi bước chân qua cửa, có vài thứ trong nhà dường như hơi là lạ đối với bạn trong vài phút. Bạn thấy tường phòng khách có vẻ như vàng hơn bình thường, và màu trắng ngà ở ô cửa sổ hướng tây nhìn mới đẹp làm sao. Bạn thậm chí còn thấy được ánh đèn buổi tối rải trên chiếc thảm nhỏ đặt ở dưới chân cầu thang, điều mà trước đây bạn chưa từng để ý tới. Nhưng những khoảnh khắc này sẽ nhanh chóng qua đi, và sự thân thuộc sẽ quay trở lại, tất cả mọi thứ đã về đúng vị trí của nó; và bạn sẽ lại không thấy nữa. 
Thật là đáng tiếc nếu như hàng ngày chúng ta không có phản ứng gì với vẻ đẹp của màu trắng ngà đó. Thật buồn nếu như mỗi ngày chúng ta không nhìn thấy ánh sáng đang rải trên chiếc thảm nhỏ kia. Những cảnh đó đã bị cặp mắt và tâm trí của ta bỏ qua bởi vì chúng đã trở nên quá quen thuộc, và giá trị tự thân của chúng không còn được trân trọng nữa. 
Ở nơi tôi sống, mọi người ít khi để ý tới những cây bồ công anh vào mùa xuân bởi vì chúng mọc quá nhiều. Nhưng ở phía nam châu Phi, một phụ nữ mà tôi quen đang cố http://www.viahe.org/ 
trông một khóm hoa bồ công anh ở trong vườn của cô ấy. Đối với cô ấy, hoa bồ công anh không phải là một thứ gì quen thuộc. Mặt khác, cô ta lại coi những giống hoa cúc dại nhiều màu sắc mọc khắp nơi trong đó là một thứ quá quen thuộc, quá quen nên không trân trọng nữa. 
Một nhiếp ảnh gia muốn thấy, một nhiếp ảnh gia muốn có được những bức ảnh đẹp, phải có khả năng nhận ra giá trị của sự quen thuộc. Khả năng thấy của bạn không tăng lên theo khoảng cách giữa bạn và nhà của mình. Nếu bạn không thấy những gì ở quanh bạn hàng ngày, thì bạn sẽ thấy gì khi bạn đi tới Tangiers? Chủ thể có thể khác nhau, nhưng trừ khi bạn nắm được bản chất của chủ thể nhờ khả năng quan sát sắc sảo và thể hiện nó qua ảnh, thì vị trí chụp của bạn không quan trọng chút nào. 
Thậm chí ngay cả máy ảnh cũng là một trở ngại đối với sự thấy, ít nhất theo hai cách. Susan Sontag, trong On Photography, đã mô tả về cách đầu tiên: “Trong vai trò là cách kiểm chứng một trải nghiệm, thì chụp ảnh cũng là một cách chối bỏ trải nghiệm đó -- bằng cách giới hạn trải nghiệm vào việc tìm kiếm cái gì đó ăn ảnh, bằng cách biến trải nghiệm đó vào một bức ảnh, một món đồ lưu niệm.” Chụp ảnh có thể được dùng để thay thế cho sự thấy và sự tham gia. Người thấy sẽ tham gia, người nhìn sẽ đứng bên ngoài. 
Máy ảnh cũng là một trở ngại bởi vì nó không hoạt động giống như mắt người. Chúng ta thấy một cảnh hoặc một tình huống bằng cả các giác quan và kinh nghiệm. Khi chúng ta nhìn vào một phong cảnh, chúng ta quan sát và chỉ nhớ một vài đặc điểm chính -- đủ để chúng ta có được một ấn tượng nào đó về nó, thường là tất cả những gì mà chúng ta cần làm. Nhưng do máy ảnh không có kinh nghiệm nên nó không thể lựa chọn, nó sẽ ghi lại tất cả những gì nó thấy. Bộ nhớ của nó là hoàn hảo. Do vậy, sự khác biệt chính giữa một người và một chiếc máy ảnh là ở chỗ con người có khả năng trừu tượng hóa, còn máy ảnh thì không. 
Con người liên tục trừu tượng hóa. Họ làm điều này mà không cần nghĩ. Do vậy khi sử dụng máy ảnh, họ thường ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng những gì máy thấy lại không phải là những gì họ thấy. Một thách thức lớn khi sử dụng một chiếc máy ảnh là học cách điều khiển nó (và những dụng cụ, kĩ thuật khác) sao cho nó có thể tạo ra một bức ảnh giống hệt như những gì bạn cảm thấy. 
Không kể đến sự khác biệt về quang học giữa máy và mắt người, tất cả trở ngại đối với sự thấy đều có mối liên hệ nào đó với trở ngại đầu tiên – quá nhiều cái tôi. Điều tích cực ở chỗ nó là một phần tự nhiên trong trách nhiệm nuôi dưỡng gia đình, chăm sóc sức khỏe bản thân và thanh toán các loại hóa đơn. Nhưng tất cả những điều này đều có thể làm được mà không cần phải nhắm mắt lại với thế giới tuyệt vời ở xung quanh chúng ta. 
Thấy, theo nghĩa rộng và chính xác nhất, là sử dụng các giác quan của bạn, trí tuệ của bạn và các cảm xúc của bạn. Nó có nghĩa là đến với chủ thể bằng tất cả con người bạn. Thấy tốt không đảm bảo luôn có ảnh tốt, nhưng ảnh tốt thì không thể thiếu nó. http://www.viahe.org/ 
Học cách quan sát 
Suy nghĩ của con người dựa trên nhiều loại biểu tượng khác nhau, chẳng hạn như ngôn từ, âm thanh và hình ảnh. Trong các loại biểu tượng này thì hình ảnh có vai trò quan trọng nhất. Khi một vận động viên bắt đầu chạy, anh ta đã hình dung ra trong đầu cả một chặng đường mà anh sẽ phải vượt qua. Khi một người thợ may bắt đầu may, cô ta sẽ hình dung ra một bộ trang phục đã hoàn chỉnh. Khi một nhiếp ảnh gia quan sát các đối tượng, khung cảnh, và sự kiện, cô ấy sẽ cố gắng hình dung xem làm thế nào để thể hiện chúng tốt nhất ở trên phim. 
Chúng ta suy nghĩ với ba loại hình ảnh – loại mà chúng ta quan sát thấy (những vật thể), loại mà chúng ta tưởng tượng ra (những ý tưởng và giấc mơ hình tượng), và loại mà chúng ta tạo ra (một bản vẽ phác, một bức tranh hay một bức ảnh). Trong khi một số người chỉ suy nghĩ tốt nhất với một trong những thể loại trên, thì những người giỏi nhất lại có thể dễ dàng hoán chuyển giữa các thể loại, thậm chí còn có thể sử dụng tất cả các thể loại trên cùng một lúc. 
Mục đích của cuốn sách này là nâng cao khả năng suy nghĩ hình tượng của các bạn theo cả ba cách – để quan sát chính xác hơn, để phát triển khả năng tưởng tượng, và để thể hiện một chủ đề nào đó hiệu quả hơn thông qua những bức hình. 
Hãy bắt đầu với quan sát. Nó có thể là tình cờ hay ‘tập trung’. Quan sát tập trung là một nhiệm vụ không dễ dàng chút nào, nhưng đây nên là mục đích của tất cả các nhiếp ảnh gia. Nó có nghĩa đơn giản là xem xét mọi vật thật chi tiết và cho rằng mọi chi tiết tự nó đều rất quan trọng. Có hai phương pháp để trợ giúp các bạn phát triển khả năng quan sát tập trung. 
Phương pháp thứ nhất, ‘suy nghĩ phi chính thống’, đặc biệt hữu dụng đối với những nhiếp ảnh gia muốn thoát khỏi những thói quen cũ kĩ của mình. Nó đơn giản là việc tạo ra một khối đầy đủ thông tin về đối tượng bằng cách quan sát từ nhiều góc độ khác nhau. Những bài thực hành chụp ảnh theo kiểu ‘phi chính thống’ này là rất nghiêm túc, nhưng cũng rất thú vị và hiệu quả. 
Phương pháp thứ hai, ‘tập trung trong thư giãn’, giúp bạn có thể quan sát sự vật chính xác hơn bằng cách tập trung thư giãn trí óc. Khi khả năng quan sát cũng như trí tưởng tượng của bạn tốt lên thì bạn sẽ thấy mình tiến gần hơn tới mục đích tạo ra những bức hình thể hiện tốt được đối tượng và sự tương tác của bạn đối với nó. http://www.viahe.org/ 
Suy nghĩ phi chính thống 
Ngày trước mỗi khi nhìn thấy những chiếc mạng nhện có đọng những giọt sương tôi luôn nghĩ tới những vòng dây chuyền ở chốn thiên đàng, nhưng tới tận vài năm trước đây tôi luôn chụp thành những hình khối kiến trúc. Tôi đã gắn máy ảnh vào tripod và đặt ở một khoảng cách vừa đủ sao cho cái mạng nhện phủ kín khunh hình với những đường nét và hình khối, tôi để DOF dày tối đa sao cho tất cả đều nét. Tôi đã cho rằng đó là cách chụp tôi cần thực hiện, có lẽ chính xác hơn, đó là cách mà mọi người muốn được xem chúng. Tôi đã chấp nhận đây là cách nhìn mạng nhện của riêng mình. 
Vào một buổi sáng mùa thu, khi những cái mạng nhện chăng đầy kín trong những bụi cây và lùm cỏ ở sau nhà, tôi chợt nhận ra rằng tất cả những ảnh chụp mạng nhện của tôi đều giống nhau. Chúng hoàn toàn mang tính tư liệu. Đẹp ư, vâng! Thể hiện được cách cảm nhận của tôi ư, không! Việc tôi đã làm chẳng có gì sai, nhưng việc tôi không làm quả rất là thiếu sót; vì vậy tôi đã quyết định nhìn mạng nhện theo những cách tôi chưa từng làm. Tôi đã không biết mình nên làm như thế nào, chỉ đơn giản là quyết sẽ thử nghiệm mọi ý tưởng mới xuất hiện trong đầu tôi. 
Đầu tiên, tôi đặt máy ảnh sang một bên mạng nhện và lấy nét vào cạnh gần nhất. Tôi cũng chuyển từ DOF dày nhất sang DOF mỏng nhất có thể. Thay vì những nét kiến trúc, tôi nhìn thấy những sợi dây chuyền – cuối cùng thì tôi đã có thể nhìn một mạng nhện theo đúng như những gì tôi cảm nhận được về nó. Đây là điểm khởi đầu của cả một thay đổi lớn – đó là tình yêu của tôi với những cái mạng nhện. 
Tiếp theo, tôi bò xuống dưới cái mạng nhện và chụp ngược lên (không dễ chút nào, tôi đã làm hỏng rất nhiều mạng nhện khi thử cách này). Sau đó tôi lấy những đồ nghề chụp macro ra và lắp chúng lại với nhau theo những cách mà tôi chưa từng thử. Không phải tốn công tưởng tượng trước làm gì cho mệt. Chỉ đơn giản là tôi lấy đồ nghề, đi ra ngoài, và trườn trên cỏ. Tôi chụp lúc thì thừa sáng, khi thì thiếu sáng. Lúc thì nét từ gốc tới ngọn, khi thì chẳng có cái gì nét cả. Tôi chẳng quan tâm đến những yêu cầu kỹ thuật nọ kia mà rất nhiều nhiếp ảnh gia đặt nặng. Tôi không đi tìm những kiệt tác; tôi chỉ đi tìm những điểm khởi đầu mới. Tôi không đi tìm lời giải cho những bài toán cũ, tôi đón nhận những bài toán mới. 
Mạng nhện tự chúng đã quá đẹp, điều này đã khiến cho tôi không quan sát kĩ lưỡng, đặc biệt là không thử chụp chúng theo cách của riêng mình. Như là tiếng sét ái tình vậy, điều này có thể xảy ra khi bạn bị ấn tượng đầu tiên lấn át khiến cho bạn chỉ toàn chụp những vẻ đẹp bên ngoài của nó. Sau khi chụp đi chụp lại theo cùng một cách, nhìn thấy cùng một kết quả, bạn sẽ chán và rất có thể sẽ từ bỏ không chụp nó nữa, cũng giống như sự quen thuộc nhàm chán đã phá hủy đi rất nhiều các mối quan hệ giữa con người. 
Khi bạn nghĩ theo lối phi chính thống, bạn sẽ tìm được những cách khác nhau để nhìn sự vật, và bạn sẽ có được những khám phá, những kết quả tình cờ thú vị. Hãy bỏ đi những quan điểm thông thường của mình, và hãy đi tìm những cái mới. Thay vì cố gắng cải thiện phương pháp và kĩ thuật chụp đang có của mình, hãy tìm những phương pháp và kỹ http://www.viahe.org/ 
thuật mà bạn chưa từng thử. Hãy quên đi những bức ảnh về mạng nhện mà bạn đã có. Hãy nghĩ về những bức mà bạn chưa tạo ra. 
Hầu hết mọi người suy luận theo lối diễn dịch và hầu hết các nhiếp ảnh gia cũng nhìn theo lối đó. Chúng ta có một định kiến, hoặc một phong cách chủ đạo, dù là trong tỉnh thức hay tiềm thức, và chúng ta tiếp tục đi theo một lối suy nghĩ được phát triển một cách logic từ phong cách / ý tưởng đó. Cuối cùng chúng ta sẽ đi đến một kết luận. Đó là một quá trình khép kín. Rất hiếm khi chúng ta suy nghĩ khác đi, một cách phi chính thống, để đi tìm những phong cách khác hoặc những điểm khởi đầu mới. Chúng ta tránh đưa ra những yếu tố mới vào nhiếp ảnh, dù là kỹ thuật hay cảm xúc, bởi vì chúng ta sợ sẽ không thể kiểm soát nổi chúng. 
Một cách hữu hiệu để phá vỡ một quan điểm vốn luôn kiểm soát cách bạn nhìn và chụp là hãy giả vờ như nó không tồn tại. Bạn phải phá vỡ đi những qui tắc. 
Những bài thực hành suy nghĩ phi chính thống 
Hãy đưa ra một danh sách các qui tắc trong nhiếp ảnh; sau đó đi ra ngoài chụp và phá bỏ đi các qui tắc đó. Một danh sách mẫu có thể nhìn na ná như sau. 
Nguyên tắc 1. Luôn giữ máy ảnh thật chắc 
Nguyên tắc 2. Đảm bảo cho chủ thể luôn nét 
Nguyên tắc 3. Chụp đúng sáng 
Sau đó đem theo bản danh sách này, đi tìm nhiều đối tượng khác nhau, và chụp ảnh ngược hẳn với các nguyên tắc ghi trong đó. 
Phá bỏ nguyên tắc 1. Hãy nhảy lên và nhảy xuống ở trong rừng, bấm nút chụp trong khi đang nhảy. 
Chạy càng nhanh càng tốt về một chiếc xe hơi đang đỗ, chụp trong khi đang chạy. 
Hãy buộc máy ảnh thật chặt. Đặt tốc độ chụp rất chậm, chụp hẹn giờ. Sau đó quay máy theo vòng tròn ở quanh bạn, hoặc theo chiều dọc, cho đến khi chụp xong. 
Phá bỏ nguyên tắc 2. Hãy chụp một loạt ảnh với chủ thể của ảnh bị mờ, những phần còn lại nét. 
Hãy chụp mờ một cảnh hoàng hôn, một bông hoa, và một mặt nước lấp lánh. 
Phá bỏ nguyên tắc 3. Sau khi đã đo sáng, bạn hãy chụp một loạt ảnh với năm chủ thể khác nhau thừa sáng 1EV. Hãy để thừa sáng nhiều hơn nữa nếu bạn chụp ảnh phim. Sau đó chuyển sang chụp thiếu sáng. http://www.viahe.org/ 
Khi bạn nhìn vào những bức ảnh chụp được, hãy nhìn chúng với cùng một tinh thần như khi bạn chụp. Bởi vì nếu không, bạn sẽ chối bỏ tất cả và coi chúng như thảm họa. Hãy cư xử như thể những quan điểm lớn trước đó chưa từng tồn tại. Hãy nhớ rằng, ý tưởng chính của những bài thực hành này là để giúp bạn thoát khỏi những gì bạn vẫn luôn làm. 
Bằng cách nhảy lên nhảy xuống ở trong rừng, hoặc di chuyển máy ảnh lên xuống trong khi chụp, rất có thể bạn đã kéo dài những thân cây thành những dóng dài theo trục dọc, tạo ra một hiệu ứng cây tre. Có thể bạn không hài lòng với bức ảnh vì một số chi tiết như vùng sáng gây mất tập trung ở các góc phía trên; nhưng những vấn đề này trong tương lai đều có thể kiểm soát được bằng cách thay đổi cách chuyển động hay chọn một địa điểm khác. Tuy nhiên, ý chính ở đây là bây giờ bạn đã có được một ý tưởng mới, điều mà bạn chỉ khám phá ra nhờ đi ngược lại với một qui tắc mà bạn nghĩ rằng bạn sẽ không bao giờ phá bỏ. Hãy tiếp nhận ý tưởng mới này và cố gắng phát triển, củng cố nó. 
Bằng cách vừa chạy về chiếc xe hơi vừa chụp, bạn có thể có được một bức ảnh mà ở đó chiếc xe như đang nổ tung ra về mọi phía. Nhờ chụp thừa sáng 2-3EV ở trong rừng, bạn có thể đã xóa nhòa tất cả chi tiết của cây, nhưng có lẽ sẽ còn sót lại một vài đường nét tinh tế nào đó. Hãy tự nghĩ thêm các bài thực hành và thử nghiệm chúng. Kết quả có thể sẽ rất lộn xộn, nhưng bạn sẽ tiếp nhận được thêm thông tin để có thể phân biệt chúng và đánh giá ảnh hưởng của các hiệu ứng này khi quan sát những bức ảnh. 
Lần đầu tiên khi nhìn vào kết quả, hãy đảm bảo rằng bạn thả lỏng mọi cảm xúc của mình. Đừng ngần ngại khi thốt lên “Này, tôi thích nó!” ngay cả khi bức ảnh đó có vẻ như hoàn toàn sai khi so sánh với những tiêu chuẩn cũ của bạn. Cảm xúc của bạn cũng quan trọng không kém gì các đánh giá duy lý khác. Đầu tiên hãy nhìn vào những bức ảnh mà bạn cực kỳ yêu / ghét. Sau đó mới sử dụng logic. Hãy đánh giá xem tại sao bạn lại phản ứng như thế. Hiệu ứng nào bạn thích mà từ giờ có thể được dùng một cách chủ động khi chụp ảnh? 
Sự tình cờ 
Một điều bạn sẽ thấy khi quan sát những bức ảnh chụp được, đó là thỉnh thoảng sẽ có những bức ảnh đẹp do tình cờ, may mắn. Bạn có thể sẽ tìm thấy nhiều hơn nữa nếu bạn chụp thường xuyên. Đừng quá ki bo khi thử nghiệm chụp với ý tưởng mới (dù là với phim hay thẻ nhớ), hãy chụp ít nhất mười bức cho mỗi bài thực hành. Hãy cho sự tình cờ may mắn kia có nhiều cơ hội được xảy ra. Và hãy đừng vội dọn dẹp ngay đi những bức ảnh của mình, dù là ảnh số. 
Những nhiếp ảnh gia muốn nhìn theo cách mới cần phải nhạy bén hơn với sự tình cờ. Họ cần phải khuyến khích và nuôi dưỡng nó, bởi vì rất nhiều khả năng phát triển hình tượng chỉ đến nhờ sự tình cờ. Chiếc máy ảnh có khả năng hoạt động rất nhanh, điều này giúp cho các bạn làm được điều mà không họa sỹ nào có thể, đó là chộp được những khoảnh khắc xảy ra nhờ sự tình cờ, hoặc do bạn thúc đẩy sau khi thực hành những bài thực hành chụp ảnh theo lối phi chính thống. Ngay cả khi bạn không hoàn toàn hài lòng với các kết http://www.viahe.org/ 
quả, thì nó vẫn rất có ích. Chúng có thể gợi ý ra một ý tưởng mới, hoặc một kỹ thuật chụp mới mà bạn muốn phát triển. 
Một người bạn của tôi, dạy nhiếp ảnh và lịch sử tự nhiên, có nhiều kiến thức về những loài cỏ cây, côn trùng, đá và những vật thể tự nhiên khác, về cách mà chúng kết hợp với nhau trong một tổng thể của tự nhiên. Cô ấy thường sử dụng một bài thực hành phụ thuộc rất nhiều vào sự tình cờ. Sau một buổi nói chuyện ngắn với sinh viên của mình về môi trường tự nhiên của khu vực đó, cô ấy đưa cho mỗi sinh viên một cái vòng dây. Mỗi người tung vòng dây của mình lên trời và mẩu đất hình tròn nằm trong vòng đó sẽ là phạm vi để người đó nghiên cứu về tự nhiên và chụp ảnh. 
Thường thì sẽ có một cái vòng nào đó rơi xuống một vị trí nào đó có vẻ như kém hấp dẫn nhất – gần như không có gì đáng để nghiên cứu hay chụp ảnh, cho đến khi người bạn của tôi đi tới vòng tròn này. Sau một vài phút, cô ấy đã làm cho sinh viên đó cảm thấy may mắn vì chiếc vòng đã rơi đúng chỗ đó. Chẳng mấy chốc gần như tất cả các sinh viên đều bận rộn làm việc với vòng tròn của riêng họ, và chụp ảnh nữa. 
Chỉ sau này khi nghĩ lại thì sinh viên mới thấy được giá trị của sự tình cờ. Nếu họ được quyền chọn một vị trí nào đó thay vì tung chiếc vòng lên trời thì tất cả mọi người sẽ chọn dựa trên định kiến của mình. Và họ sẽ mất đi cơ hội được nhìn và chụp những thứ mà bình thường họ sẽ bỏ qua. 
Bạn hãy tự thử bài thực hành này xem sao. Sau đó thử hai bài thực hành tiếp theo. Tại sao lại không đề nghị người khác cũng thử làm bài thực hành như vậy cùng một lúc? So sánh kết quả sẽ rất bổ ích. 
1/ Hãy cầm máy ảnh lên, với một ống kính 50mm, và một tripod. Tới cửa chính, đi thêm mười chín bước (hoặc một số bước đã định sẵn nào đó) theo bất cứ hướng nào. Đánh dấu vị trí đó. Đi thêm bảy bước từ vị trí bạn đã đánh dấu, rồi tạo thành một vòng tròn có tâm là điểm đã đánh dấu, bán kính bảy bước. Hãy chụp ít nhất hai mươi bức ảnh trong vòng tròn đó. Đừng đặt giới hạn ở mức 2 hoặc 3 bức, bởi vì như vậy không đủ. Bạn sẽ cảm thấy tuyệt vọng trong khi làm bài thực hành này. Bạn sẽ chỉ có thể tạo được đột phá khi đã hết sạch những kiểu chụp. Nếu muốn có thêm thử thách, hãy chụp khoảng 30-40 bức. 
2/ Nhờ ai đó – ai cũng được, miễn không phải là chính bạn – chọn cho bạn ba chủ thể dường như không liên quan gì đến nhau để bạn chụp chúng cạnh nhau. Rất có thể bạn sẽ gặp phải một chiếc ghế, một bộ tóc giả, và một mớ hành, hoặc là một cái bát, một cây vợt tennis và một nắm cỏ. Đừng chờ đợi các kiệt tác; mà hãy chấp nhận sự đấu tranh, vật vã. Yêu cầu tối thiểu: hai mươi bức. Đây là một bài thực hành rất bổ ích – ngay cả cho dân chuyên nghiệp. 
Những thứ quen thuộc http://www.viahe.org/ 
Ba bài thực hành tiếp theo sẽ giúp duy trì tính ưa khám phá của bạn, giúp cho bạn biết nhiều hơn về những thứ quen thuộc, và giúp bạn phá bỏ được lối nhìn và chụp đầy cứng nhắc trước đó. 
1/ Nhốt bạn trong phòng tắm với một chiếc máy ảnh, một tripod và một ống kính 50mm. Hãy dành 20 phút để chụp mười bức ảnh. Đây là một bài thực hành mà tôi đã áp dụng cho nhiều sinh viên – những bức ảnh thu được đều rất hài hước, bổ ích và cực kỳ phong phú. 
2/ Hãy gắn một ống kính góc rộng hoặc 50mm vào máy ảnh của bạn, và đặt nó ở cạnh giường. Ngay khi ngủ dậy vào sáng hôm sau, hay chụp ít nhất 5 bức ở tư thế vẫn còn nằm trên giường, và ít nhất 5 bức nữa khi đang ngồi ở cạnh giường. Chụp thêm 10 bức nữa trên đường đi tới phòng tắm. Đừng quan tâm đến bố cục, đơn giản là chụp bất cứ thứ gì đập vào mắt bạn – bạn có thể đưa cả chính bản thân mình, hoặc một phần cơ thể mình vào trong các bức ảnh. Bài thực hành này khi tôi mới đưa ra luôn bị mọi người than phiền. Nhưng ý tưởng là để xem xét qua hình ảnh tất cả những hoạt động thường ngày của bạn, những thứ quá quen thuộc tới mức bạn đã từ bỏ không coi chúng là đối tượng chụp ảnh. Bạn sẽ biết thêm về bản thân mình, trong cả khi chụp lẫn khi xem lại ảnh về sau. (Nếu buổi sáng không phù hợp thì hãy chọn một giờ nào đó trong ngày.) 
3/ Nếu bạn có một con vật nuôi, hãy xem mắt của nó cao tới đâu khi đi lại. Hãy chụp một loạt ảnh, giữ máy ảnh ở độ cao đó, trong môi trường hoạt động của vật nuôi này. Những bức ảnh có được sẽ tạo thành một slideshow thú vị về nhà của bạn, vườn, hay một khu rừng, theo góc nhìn của con vật nuôi. 
Hãy thử đánh giá lại kết quả những bài thực hành này với một nhóm các nhiếp ảnh gia. Chụp riêng lẻ, nhưng hãy tập hợp lại để xem kết quả. Sẽ còn tốt hơn nữa nếu nhờ được một ai đó nằm ngoài nhóm này để biên tập thành một bộ ảnh. Sẽ có rất nhiều ảnh, nhưng người biên tập không nhất thiết phải chọn tất cả, mà người đó sẽ chọn những ảnh có ý tưởng mới lạ, bất chấp các yếu tố kĩ thuật, đồng thời cũng phải rút gọn càng ít ảnh càng tốt. 
Một lời khuyên đối với việc thực hành những bài thực hành này theo nhóm. Đó là đừng biến thành cuộc thi. Hãy để cho động cơ của họ là những ý tưởng mới. Phần thưởng và vinh quang hiếm khi là nguồn cảm hứng của sự sáng tạo. Đôi khi người có ít tác phẩm giàu trí tưởng tượng nhất lại tạo ra một bức ảnh xuất sắc nhất, và chỉ riêng bức đó cũng đã đủ để vui sướng rồi. Đôi khi một người nào đó nghĩ rằng tất cả những bức ảnh của họ đều hỏng, nhưng khi làm bài thực hành này cùng với những người khác thì cô ấy / anh ấy sẽ có thể trân trọng những cách tiếp cận thành công của những người khác và sau đó có thể sẽ phát triển các kĩ năng cần thiết để sử dụng phương pháp này, thậm chí còn cải tiến nó. Đôi khi một nhiếp ảnh gia có thể khám phá ra một loại chủ thể nào đó có sức hút rất mạnh đối với họ, hoặc có thể làm lộ ra một năng khiếu đặc biệt nào đó chưa được “khai quật”. Đó chính là những phần thưởng khi làm những bài thực hành này. 
Điều thiết yếu là bạn cần phải sớm tiếp tục chụp ảnh. Những điều học được khi làm những bài thực hành này sẽ chỉ trở nên thực sự hiệu quả nếu chúng sớm được áp dụng http://www.viahe.org/ 
trên thực tế. Nếu bạn đang chuẩn bị cho một buổi chụp ảnh những sắc màu mùa thu vào cuối tuần, hãy thử những bài thực hành này trước khi đi vào rừng. Sau đó hãy tiếp tục nó với đối tượng là màu sắc và tâm trạng của mùa thu. Sau đó bạn có thể tự tin sử dụng những phương pháp mới rút ra được trong những hoàn cảnh khác. 
Khả năng linh hoạt 
Nghĩ theo lối phi chính thống giúp bạn không những giúp bạn thoát khỏi những quan niệm cũ kĩ lạc hậu trong nhiếp ảnh mà còn giúp bạn nhìn thấy được những chủ thể nhiếp ảnh mà bạn thường bỏ qua hoặc không để ý tới. Nó giúp mở rộng thế giới của bạn. 
Nếu bạn suy nghĩ linh hoạt trong nhiếp ảnh, bạn 1/ sẽ nhận ra rằng các nguyên tắc, công thức hay bất cứ phong cách chủ đạo nào đều có thể trở thành trở ngại chứ không giúp bạn nhìn tốt hơn, 2/ sẽ không cần phải lúc nào cũng quan tâm đến logic, bởi vì logic chỉ là cách để phát triển những quan điểm, ý tưởng đã có, 3/ sẽ luôn tích cực tìm kiếm những cách nhìn mới đối với sự vật, và sẽ có khả năng thay đổi góc nhìn đối với những vấn đề tưởng chừng như hoàn toàn bế tắc, 4/ sẽ luôn chào đón sự tình cờ vì biết rằng nó có thể sẽ tạo cảm hứng cho những cách nhìn, cách sử dụng máy ảnh hoàn toàn mới. 
Suy nghĩ phi chính thống là việc nhìn thấy một chuỗi hình ảnh về chủ thể để cuối cùng bạn sẽ ghép tất cả chúng lại với nhau tạo thành một bức tranh tổng thể nhất. Đó là việc đi quanh một ngôi nhà để chụp nó ở mọi góc độ, giúp bạn có thể biết được toàn bộ cấu trúc của nó như thế nào, thay vì chỉ chụp đi chụp lại ngôi nhà từ một vị trí. 
Suy nghĩ phi chính thống cần phải có trước suy nghĩ logic. Nếu bạn chưa chụp hết mọi góc thì bạn không thể khẳng định được liệu mình đã chọn được góc chụp đẹp nhất hay chưa. Nếu bạn chỉ đứng một chỗ, thì điều duy nhất bạn có thể làm là cố gắng cải thiện những bức ảnh bạn có được khi chụp từ góc đó – mà góc này chưa chắc đã là góc chụp đẹp nhất. 
Bạn có thể tập luyện lối suy nghĩ phi chính thống này ở mọi nơi mọi lúc – không nhất thiết phải có máy ảnh. Một khi bạn đã bắt đầu, bạn sẽ chỉ muốn dùng nó mãi, bởi vì nó không chỉ thú vị mà còn có tác dụng rất nhanh. Để giúp các bạn có thể bắt đầu, tôi xin giới thiệu một số tình huống sau. Trong mỗi tình huống, ý đầu tiên là theo lối suy nghĩ chính thống, và ý thứ hai là theo kiểu phi chính thống. 
Chính thống: Làm thế nào để tránh flare khi chiếu ống kính vào mặt trời? 
Phi chính thống: Làm thể nào để sử dụng hiệu ứng flare vào trong ảnh. 
Chính thống: Bức ảnh này bị trống một nửa. Tôi phải tiến gần chủ thể hơn để cho nó rõ hơn và lấp đầy khoảnh trống. 
Phi chính thống: Bức ảnh này chỉ bị trống một nửa. Tôi có thể đưa chủ thể ra xa hơn hơn nữa để nhìn bối cảnh rõ hơn và tạo cảm giác không gian hơn. http://www.viahe.org/ 
Chính thống: Bức này quá lộn xộn. Tôi cần phải loại bỏ đi tất cả những gì không cần thiết. 
Phi chính thống: Bức này có thật nhiều chi tiết. Tôi có thể sắp xếp chúng quanh chủ thể hoặc là mặc kệ chúng và cố gắng thể hiện texture. 
Chính thống: Không thể chụp đụn cát ngày hôm nay được bởi vì không có nắng và sẽ chẳng có bóng. 
Phi chính thống: Tôi chưa từng xem một đụn cát trong ngày nhiều mây, do vậy tôi sẽ thử đi chụp và xem mình có thể làm được gì. 
Chính thống: Tôi không thể chụp được gì ngày hôm nay bởi vì máy đo sáng đã bị hỏng. 
Phi chính thống: Máy đo sáng đã bị hỏng, không biết là ảnh tôi chụp sẽ như thế nào nhỉ. Có lẽ là tôi sẽ học được đôi chút khi xem ảnh, ngay cả khi hầu hết chúng đều bị thừa hay thiếu sáng. 
Chính thống: Tôi ghét trời lạnh, do vậy tôi sẽ không chụp gì vào hôm nay. 
Phi chính thống: Tôi ghét trời lạnh, do vậy tôi sẽ chụp ảnh ở trong nhà vào hôm nay. 
Chính thống: Cây nấm trong bức ảnh này đã bị hỏng, nó làm xấu bức ảnh. Tôi cần phải tìm vật khác tốt hơn. 
Phi chính thống: Cây nấm trong bức này đã bị hỏng, trông nó như là đã bị sóc cắn đi mất một miếng, điều này sẽ tạo ra câu chuyện cho bức ảnh. 
Chính thống: Tôi đến đây để chụp ảnh hoa dại, nhưng quanh đây có quá nhiều rác nên tôi phải thôi. 
Phi chính thống: Tôi đến đây để chụp ảnh hoa dại, nhưng quanh đây có quá nhiều rác nên tôi sẽ làm một bộ ảnh về ô nhiễm môi trường. 
Chính thống: Tôi đã phân loại ảnh của mình trong nhiều năm nay nhưng chưa bao giờ hoàn thành. Những ảnh mới chụp của tôi luôn rối tung lên, tôi chẳng bao giờ tìm được bức mình muốn. 
Phi chính thống: Tôi đã phân loại ảnh của mình trong nhiều năm nay. Tôi luôn đánh dấu những bức ảnh mới chụp. Sau đó tôi mới phân loại những bức ảnh cũ nếu có thời gian. http://www.viahe.org/ 
Tập trung trong thư giãn 
Bạn có nhớ lần cuối cùng bạn dựa lưng vào chiếc ghế của mình và thưởng thức những đường nét hoa văn do ánh sáng vẽ lên ở trên trần nhà, thay vì cầm một tờ báo lên hay bật TV? Có khi nào bạn nhìn kĩ hơn vào miếng bơ đang tan chảy trong kẹp bánh mì sáng? Có khi nào bạn dừng lại để nhìn kĩ hơn vào cái bắp cải khi bạn đang bổ đôi nó ra để nấu ăn? 
Trong nhiếp ảnh, “thấy” là kĩ năng đầu tiên và quan trọng nhất là chúng ta phải học. Học cách quan sát đòi hỏi chúng ta phải bỏ thời gian ra để “thấy” được ở những thứ quen thuộc. Nhưng thậm chí ngay cả khi chúng ta bỏ thời gian ra, thì việc “thấy” này cũng rất khó bởi vì chúng ta thường quá căng thẳng và đầu óc mải suy nghĩ về những chuyện khác. 
Bước đầu tiên khi học bất cứ cái gì đều là phải thư giãn. Nếu bạn vẫn còn lo lắng, căng thẳng, hoặc nghĩ về thành công, thì tức là bạn đang nghĩ về chính bạn -- chứ không phải là về kĩ năng mà bạn cần có. 
Bước thứ hai là phải có khả năng tập trung vào một người / một vật nào đó. Điểm mấu chốt ở đây là nếu bạn có thể “tắt” bản thân bạn đi, thì bạn sẽ có thể “bật” được đối tượng đó lên. Bạn phải biết “buông”. Ảnh có biểu cảm thành công hay không là nhờ ở đó. 
Sau đây là một số lời khuyên để phát triển khả năng tập trung trong thư giãn. Chúng đặc biệt hữu dụng cho các nhiếp ảnh gia không chuyên (có nghề chính không phải là nhiếp ảnh), đó là những người không có nhiều thời gian dành cho nhiếp ảnh và gặp khó khăn khi thay đổi từ môi trường làm việc sang môi trường chụp ảnh, tuy nhiên chúng cũng rất bổ ích cho các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp. 
Chuẩn bị. 1/ Dành ít nhất ba dịp, mỗi dịp một giờ, trong tuần để chụp ảnh. Ghi những giờ đó lên thời gian biểu của ban. 2/ Chuẩn bị sẵn đồ nghề. 3/ Chọn một nơi nào đó ở trong / ngoài nhà bạn để chụp. 
Tuần đầu tiên. Trong mỗi giờ đó hãy tới ngồi vào chiếc ghế nào thoải mái nhất trong nhà bạn. (đừng nằm vì bạn sẽ ngủ thay vì tập thư giãn) Ngồi xuống, dựa lưng vào ghế. Nhắm mắt lại. Từ từ thở sâu. Thả lỏng cơ bắp cho đến khi cơ thể bạn hoàn toàn mềm. Một số người chọn cách thư giãn từng chút từng chút một -- đầu tiên tập trung vào chân, sau đó vào cánh tay, vai, cổ, v.v. Một số người khác lại có thể thả lỏng được tất cả ngay lập tức -- gần giống như một quả bóng xì hơi vậy. Dù cách này hay cách khác, bạn sẽ sớm cảm thấy thư giãn, càng thở sâu và chậm càng giúp thư giãn tốt hơn. 
Nếu bạn nhận thấy mình đang nghĩ về bữa tối hoặc một vài việc nào khác, thì bạn hãy tự nói với mình rằng bạn sẽ dành thời gian cho chúng trong khoảng hơn một giờ nữa. Còn ngay bây giờ, chỉ đơn giản là bạn thư giãn và không nghĩ về bất cứ việc gì cả. Sau khoảng mười lăm hai mươi phút, bạn hãy đứng dậy, cầm máy lên và chụp những đồ vật mà bạn đã chọn lúc trước. Trong lúc chụp, đừng cố chụp quá nhiều ảnh. Hãy thư giãn, dành thời gian cần thiết để quan sát đồ vật, và chỉ chụp hai hoặc ba bức, nếu như đó là tất cả những gì bạn muốn. Trên hết, đừng để ý xem những bức ảnh bạn chụp là đẹp hay http://www.viahe.org/ 
không. Chỉ đơn giản là tận hưởng thú vui cho riêng bạn. Sau khi hết giờ, hãy cất máy đi và trở lại với công việc hàng ngày của bạn. Bạn có thể thực hiện bài thực hành tuần đầu tiên này thêm một tuần nữa, hoặc nhiều hơn, trước khi chuyển sang bài thực hành tiếp theo. 
Tuần thứ hai. Cố gắng càng thường xuyên càng tốt, mỗi ngày bạn hãy dành ra ít nhất một dịp để ngồi trước một vật nào đó bạn thấy đẹp -- một bó hoa, một đống hộp sơn đã rỗng, một giỏ đựng các cuộn chỉ. Bạn có thể chỉ dùng một vật hoặc thay đổi chúng, điều này không quan trọng, miễn là vật đó hấp dẫn đối với bạn. 
Đầu tiên hãy nhắm mắt lại và thả lỏng. Đến lúc này thì bạn đã quen với việc này rồi. Khi nào cảm thấy hoàn toàn thư giãn thì hãy mở mắt ra và nhìn vào vật thể ở trước mắt bạn một lúc. Sau đó từ từ khiến cho vật đó mờ đi. Thả lỏng đôi mắt của bạn trong vòng một phút. Rồi lấy nét lại và lựa chọn quan sát thật kỹ một chi tiết nào đó. Sau đó lại thả lỏng mắt. Trong lúc thả lỏng mắt, hãy để ý tới màu sắc của khối hình đã bị mờ. 
Mỗi lần tập trung nhìn rõ trở lại, hãy chọn một chi tiết khác để quan sát. Nếu bạn nhìn vào một cây cảnh trong nhà, hãy tìm hiểu về những gân lá, sự bố trí của những cánh hoa trên bông hoa, những sợi lông nhỏ xíu trên cuống hoa. Mỗi lần thả lỏng, hãy để ý tới những chiếc lá cây, những cánh hoa, những sợi lông khi chúng bị mờ nét. 
Bạn sẽ rất thích bài thực hành này nếu nhưng bạn liên tục tìm kiếm những chi tiết mới. Hãy kiểm tra xem bạn đã tìm được tổng cộng bao nhiêu chi tiết. Ví dụ, hãy nhìn vào những chiếc lá, sau đó nhìn vào phần ở giữa những chiếc lá. Khoảng không ở giữa đó tạo nên hình gì? Màu sắc của chúng là gì? Hãy vuốt lên bề mặt của một chiếc lá -- bằng mắt của bạn. Bạn sẽ “cảm thấy” gì? Mềm mại, thô ráp, nhiều lông, lạnh, hay nhấp nhô? 
Tiếp theo, hãy tưởng tượng bạn nhỏ tới mức có thể lái một chiếc xe hơi tí hon trên bề mặt của chiếc lá. Cuộc hành trình khi đó sẽ như thế nào? Bạn sẽ có thể gặp phải những chướng ngại vật gì? Chỗ nào dễ đỗ xe nhất? Tất cả những câu hỏi này sẽ khiến cho bạn quan sát bề mặt của lá trong một “tỉnh thức” mới. 
Bài thực hành này có thể trở nên thú vị tới mức bạn dành cả buổi để quan sát mà quên không chụp một bức hình nào. Nếu điều này xảy ra, không có gì phải lo lắng cả, bởi vì không gì có ích cho nhiếp ảnh hơn việc phát triển một khả năng cảm nhận nhạy bén đối với những đối tượng của mình. Đây sẽ là một tuần thú vị, ngay cả khi nếu bạn không có một bức hình nào để minh họa. 
Tuần thứ ba. Lặp lại bài thực hành của tuần thứ hai, và thêm vào đó hai bước đơn giản sau. Đầu tiên, khi nhìn vào một chiếc lá hoặc một bông hoa, hãy cố gắng nhìn vào đường nét mà không để ý tới các chi tiết bề mặt. Hãy hình tượng hóa những đường ven, bỏ qua hoa văn và độ sâu. Có thể dễ dàng thực hiện điều này bằng cách chiếu sáng đối tượng đó từ phía sau. Sau đó, thay đổi góc chiếu sáng về trước và về bên cạnh để xem đường nét của nó thay đổi như thế nào. http://www.viahe.org/ 
Thứ hai, hãy tự hỏi bản thân xem bạn thích nhất bộ phận nào. Đó có phải là bông hoa, là một chiếc lá bị uốn cong, một nhánh cây tách ra khỏi thân cây, hay là hướng ngả xuống dưới của những chiếc lá? Bạn không thích nhất bộ phận nào? Có cái gì mà bạn rất ghét không? Có phải là một chiếc lá nhạt màu lẫn trong đó? Có phải một cuống hoa gãy? Có phải là một cái nụ nhỏ xíu đang cố nở hoa ở dưới một bông hoa khổng lồ? Nói tóm lại, bạn hãy thể hiện cảm xúc của mình trước đối tượng đã chọn – càng tự do, càng đầy đủ càng tốt. 
Sau này, khi đang chuẩn bị bữa tối, bạn có thể tự hỏi mình xem tại sao bạn lại thấy thương hại một cuống hoa gãy, một nụ hoa con. Quá trình phân tích này cũng rất là quan trọng, bởi vì nó sẽ giúp bạn hiểu được phản ứng của bạn đối với vật thể, và lý do tại sao bạn chụp nó chỉ theo một cách nào đó. Cảm xúc của bạn đối với cuống hoa gãy có thể chỉ là phản xạ có điều kiện -- bởi vì bạn thấy thương xót tất cả những gì bị tổn thương. Nhưng tại sao bạn lại thương xót một nụ hoa nhỏ thay vì bông hoa lớn? Có phải vì bạn cảm thấy bông hoa lớn kia đang ngăn không cho nụ hoa kia nở? Hãy cố tổng quát hóa lên. Có phải bạn không thích những vật thể và những người lớn? Có phải bạn coi họ là hung hăng? Có phải bạn tránh những màu sắc sáng và mạnh trong ảnh của mình, bởi vì bạn thấy cảm thông hơn với những màu sắc nhẹ và thanh hơn? Tại sao bạn lại không cảm thấy thương xót cho bông hoa lớn kia, vì nó sẽ sớm bị đẩy ra khỏi chỗ nhường đường cho nụ hoa bé? Đừng cảm thấy ngu ngốc khi hỏi những câu hỏi như vậy – dù là hỏi bản thân mình hay hỏi các nhiếp ảnh gia khác. Đây là những bước quan trọng để nâng cao khả năng quan sát và nâng cao chất lượng ảnh của bạn. Bạn sẽ nhìn tốt hơn nếu như bạn hiểu tại sao bạn có cảm xúc hơn đối với một số vật thể, màu sắc, đường nét, trong khi lại kị những thứ khác. 
Khi bạn đã thực hiện hết những bài thực hành này, bạn sẽ thấy có sự thay đổi đáng kể -- thậm chí là rất nhiều – trong khả năng quan sát của mình. Bạn cũng sẽ khám phá ra những khả năng tưởng tượng mà trước đó bạn không nghĩ là mình có. Đường đi làm trên xe buýt sẽ trở thành một cơ hội tốt cho những khám phá hình tượng của bạn. Bạn sẽ tìm hiểu bóng phản chiếu trên những thanh sắt, bóng in trên quần áo của mọi người, về màu sắc và hoa văn ở trên tay mọi người. Ngồi trong bếp với một chén trà, bạn sẽ trở nên hứng thú với bóng cửa sổ méo mó phản chiếu trên cửa tủ lạnh, và hơn nữa, bạn sẽ nhận ra rằng bạn trân trọng những khoảng thời gian đó biết bao. Chúng sẽ trở nên đặc biệt đối với bạn. Bạn sẽ có nhiều ý tưởng chụp ảnh hơn mà bạn chưa từng mơ tới, và sẽ rất muốn khám phá ra những gì mới lạ ở thế giới xung quanh bạn. Đó là những phần thưởng của việc tập trung trong thư giãn.