thư mục

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

Tự sự của một kẻ lang thang

Dạo này con người mình thật sự oải, sáng sáng bước chân ra khỏi cửa không biết đi đâu? chiều về không biết về làm gì? nhiều khi ngồi đờ đẫn ra, vợ hỏi 'sao thế?"
bảo không có gì thì vợ không tin, mà có gì để mà bảo chứ!
cả ngày chỉ có khoảng 30 phút sáng là được tự do trò chuyện, buôn dưa với mấy vị ở quán cafe, mà nghĩ cũng kỳ, sáng nào cũng ngồi với nhau, ước chừng đôi ba năm gì đó mà tên họ chả biết, chỗ làm thì không vậy mà sáng nào cũng gật đầu chào nhau một cái và mỗi người đều tự đặt cho nhau một "cái tên" nào là anh Xôi, vì sáng nào cũng ăn xôi, khi thì anh nokia vì buôn bán máy Nokia, có cả em Đôi vì là anh em sinh đôi, và bác Kiều là Việt kiều Pháp, đôi khi có cả cậu Mỹ, vì là dân American...rồi thì mỗi người một chuyện, hôm mưa thì chuyện thời tiết xấu hôm vui vẻ thì bàn chuyện quốc gia đại sự...
nhiều khi vợ bảo đi tập thể dục đi, cũng mua giầy mua tất, vậy mà chỉ chạy được dăm ba hôm là tính ỳ trong người nó nổi lên, nào là đau chân quá, nào là thời tiết xấu...và kết quả là vòng 2 càng ngày càng phát tướng, săm lốp thì lúc căng lúc xẹp, mình nhìn còn thấy chán nữa là... và rồi cơ hội cải thiện tình hình cũng xuất hiện. Hôm rồi có cậu bạn rủ leo Phanxipang, mình chưa quyết thị chị vợ đã quyết. (là mình phải đi).
và thế là kế hoạch tập leo núi đã được đưa ra, sáng sáng phải chạy bộ, chiều chiều thì đạp xe ròng rã gần hai tháng trời với sự động viên và chăm sóc của cả hai mẹ con nhà nó sức khỏe cũng có phần được cải thiện ,và rồi ngày lên đường đã tới. Sau khi chuẩn bị mọi tư trang cho mình xong chị vợ liền sai cậu con mang ra cái thước dây, đang không hiểu chuyện gì thì vợ liền "sấn tới" nào là đo vòng 2 và bắt đứng lên cân để kiểm tra "số liệu" trước khi đi và rao hẹn khi về sẽ kiểm tra....
....Mọi người cùng tập trung ở ga Hà nội lúc 19h30, đoàn gồm 8 anh em trong đó có đến 7 đấng mày râu và độc nhất một cô dược sỹ,  một điều thú vị đầu tiên là trong đoàn có 8 người thì 4 người làm trong ngành Y nên cơ số thuốc mang đi thật ấn tượng  (xếp đầy một balo 5 kg thuốc tây các loại từ đau dạ dày cho tới berberin...) và đúng 20h05" tầu chuyển bánh....
Sáng sớm hôm sau tầu đến ga Lao Cai, mọi người cấp tập chuyển hành lý sang một chiếc ô tô đang chờ sẵn và 6h sáng xe đưa cả đoàn tới khách sạn ( Papillon Hotel) trên Sappa  để bắt đầu chinh phục đỉnh Phanxipang, nóc nhà của Đông Dương.
(Một điều thật lạ là hầu hết các đoàn lên Phanxipang đều là các nhóm bạn chưa từng quen nhau mà hợp thành đoàn, điều này mãi sau này mình mới nhận ra).
Ở thời Hán Sở tương tranh từ Tam Tần tiến vào Ba-Thục có đường chính lộ duy nhất là sạn đạo, được làm bằng tre và ván ghá vào sườn núi mà thành con đường, sau đó bị Trương Lương đốt đi để tránh tai mắt của Hạng Vũ, cô lập Hán Lưu Bang chỉnh đốn quân mã chờ ngày tiến khỏi Ba-Thục..Đường lên Phanxipang thật gian truân, cách trở, bạn nào đã từng đọc sử Tầu có nói đến Sạn Đạo thì sẽ hình dung đường lên  Fans gian nan cỡ nào, cả đoàn dừng lại nghỉ ăn trưa ở cao điểm 1900m sau đó tiến tới độ cao 2,800m vào cuối ngày để qua đêm ở đó.
Sáng sớm hôm sau cả đoàn giao hẹn: Thằng nào "lên Đỉnh" trước sẽ chịu phạt do em gái duy nhất trong đoàn đưa ra, nên mọi người dù trẻ hay già, trai hay gái cũng đều chờ nhau để "cùng lên đỉnh".
và khi đoàn chúng tôi lên gần tới đỉnh Phanxipang thì ở phía sau có mấy em gái Sài Gòn thánh thót gọi với theo mấy chú  ơi đợi chúng cháu lên đỉnh với. Đứng giữa lưng chừng trời mà nghe được giọng con gái Sài Gòn thì cảm giác  lâng lâng đó  như diều gặp gió, thịt chó gặp được mắm tôm,...
Ai đã một lần lên đỉnh sẽ cảm nhận được sự bay bổng, lâng lâng giữa đất trời bao la bốn bề là gió và mây trên là ánh mặt trời bắt đầu lan tỏa, dưới là tiếng gọi nhau í ới lúc ẩn lúc hiện của rất, rất nhiều bạn trẻ đang cố gắng chinh phục nóc nhà của Đông Dương tại độ cao 3143m so với mặt nước biển


Giấc ngủ Đêm
Đêm qua trằn trọc giấc chẳng yên
Có phải lạ giường thức cả đêm
Trời thu se lạnh rừng sương giá
Xưởng gỗ xung quanh cứ kéo dền 
Đường tới đỉnh vinh quang
Còn chặng nữa thôi cố lên nào
Khởi hành khi rừng vẫn chiêm bao
Lên lên xuống xuống bao lâu nữa
Ồ đã tới nơi, tưởng thế nào
Đỉnh Fansipan
Mũ chóp đội đầu đứng chênh vênh
Lắm kẻ đứng quanh sợ ngã kềng
Lắm kẻ ngu ngơ leo tới đỉnh
Xuống núi tự hào chẳng phải khênh
Phạm Vũ Lưu - thành viên trong đoàn
Vậy là câu chuyện tháng 9 của tôi đã khép lại, sau chuyến đi, về nhà thấy hai mẹ con nó vẫn đang mơ màng, không nỡ đánh thức, lặng lẽ sửa soạn hành trang cho một ngày mới đang bắt đầu.












Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

America's Pacific Century

The future of politics will be decided in Asia, not Afghanistan or Iraq, and the United States will be right at the center of the action.

As the war in Iraq winds down and America begins to withdraw its forces from Afghanistan, the United States stands at a pivot point. Over the last 10 years, we have allocated immense resources to those two theaters. In the next 10 years, we need to be smart and systematic about where we invest time and energy, so that we put ourselves in the best position to sustain our leadership, secure our interests, and advance our values. One of the most important tasks of American statecraft over the next decade will therefore be to lock in a substantially increased investment -- diplomatic, economic, strategic, and otherwise -- in the Asia-Pacific region.

The Asia-Pacific has become a key driver of global politics. Stretching from the Indian subcontinent to the western shores of the Americas, the region spans two oceans -- the Pacific and the Indian -- that are increasingly linked by shipping and strategy. It boasts almost half the world's population. It includes many of the key engines of the global economy, as well as the largest emitters of greenhouse gases. It is home to several of our key allies and important emerging powers like China, India, and Indonesia.
At a time when the region is building a more mature security and economic architecture to promote stability and prosperity, U.S. commitment there is essential. It will help build that architecture and pay dividends for continued American leadership well into this century, just as our post-World War II commitment to building a comprehensive and lasting transatlantic network of institutions and relationships has paid off many times over -- and continues to do so. The time has come for the United States to make similar investments as a Pacific power, a strategic course set by President Barack Obama from the outset of his administration and one that is already yielding benefits.
  With Iraq and Afghanistan still in transition and serious economic challenges in our own country, there are those on the American political scene who are calling for us not to reposition, but to come home. They seek a downsizing of our foreign engagement in favor of our pressing domestic priorities. These impulses are understandable, but they are misguided. Those who say that we can no longer afford to engage with the world have it exactly backward -- we cannot afford not to. From opening new markets for American businesses to curbing nuclear proliferation to keeping the sea lanes free for commerce and navigation, our work abroad holds the key to our prosperity and security at home. For more than six decades, the United States has resisted the gravitational pull of these "come home" debates and the implicit zero-sum logic of these arguments. We must do so again.
Beyond our borders, people are also wondering about America's intentions -- our willingness to remain engaged and to lead. In Asia, they ask whether we are really there to stay, whether we are likely to be distracted again by events elsewhere, whether we can make -- and keep -- credible economic and strategic commitments, and whether we can back those commitments with action. The answer is: We can, and we will.
Harnessing Asia's growth and dynamism is central to American economic and strategic interests and a key priority for President Obama. Open markets in Asia provide the United States with unprecedented opportunities for investment, trade, and access to cutting-edge technology. Our economic recovery at home will depend on exports and the ability of American firms to tap into the vast and growing consumer base of Asia. Strategically, maintaining peace and security across the Asia-Pacific is increasingly crucial to global progress, whether through defending freedom of navigation in the South China Sea, countering the proliferation efforts of North Korea, or ensuring transparency in the military activities of the region's key players.
Just as Asia is critical to America's future, an engaged America is vital to Asia's future. The region is eager for our leadership and our business -- perhaps more so than at any time in modern history. We are the only power with a network of strong alliances in the region, no territorial ambitions, and a long record of providing for the common good. Along with our allies, we have underwritten regional security for decades -- patrolling Asia's sea lanes and preserving stability -- and that in turn has helped create the conditions for growth. We have helped integrate billions of people across the region into the global economy by spurring economic productivity, social empowerment, and greater people-to-people links. We are a major trade and investment partner, a source of innovation that benefits workers and businesses on both sides of the Pacific, a host to 350,000 Asian students every year, a champion of open markets, and an advocate for universal human rights.
President Obama has led a multifaceted and persistent effort to embrace fully our irreplaceable role in the Pacific, spanning the entire U.S. government. It has often been a quiet effort. A lot of our work has not been on the front pages, both because of its nature -- long-term investment is less exciting than immediate crises -- and because of competing headlines in other parts of the world.
As secretary of state, I broke with tradition and embarked on my first official overseas trip to Asia. In my seven trips since, I have had the privilege to see firsthand the rapid transformations taking place in the region, underscoring how much the future of the United States is intimately intertwined with the future of the Asia-Pacific. A strategic turn to the region fits logically into our overall global effort to secure and sustain America's global leadership. The success of this turn requires maintaining and advancing a bipartisan consensus on the importance of the Asia-Pacific to our national interests; we seek to build upon a strong tradition of engagement by presidents and secretaries of state of both parties across many decades. It also requires smart executio

                                                                                                                                        BY HILLARY CLINTON | NOVEMBER 2011

Tương lai của nước Mỹ


Phải chăng Mỹ đang gây bất ổn trong khu vực châu Á ?
Tại một thời điểm nhiều chuyển biến, khu vực châu Á-Thái Bình Dương nên gắn bó với các đảm bảo an ninh đã từng mang lại hòa bình và thịnh vượng tương đối. Còn quá sớm để loại Hoa Kỳ ra khỏi các tính toán.
Hoa Kỳ là một yếu tố làm ổn định hay mất ổn định trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương? Khi nghe câu hỏi này, hầu hết người Mỹ, tất nhiên sẽ cho Hoa Kỳ là một yếu tố tạo nên ổn định. Nhưng tôi ngờ rằng hầu hết người Trung Quốc (và một số người khác) sẽ không đồng ý như thế.
Hành vi của Mỹ gần đây ở trong nước và ở nước ngoài có xu hướng củng cố câu hỏi liệu Hoa Kỳ có thực sự là một yếu tố cho ổn định hay không. Một ví dụ gần đây: chính quyền của Tổng thống Obama, sau khi tuyên bố rằng Mỹ đã đặt những nỗ lực chống khủng bố trong một cuộc chiến sai lầm (ở Iraq) thay vì đúng chỗ (ở Afghanistan), công bố "tăng thêm quân tại Afghanistan, chỉ để đồng thời thông báo ý định rút quân của mình. Các nước láng giềng của Afghanistan đã chỉ nghe về sau và bỏ qua về đầu của lời tuyên bố. Sự lệ thuộc của Hoa Kỳ vào Pakistan tăng lên, nhưng mối quan hệ với Islamabad lại nhanh chóng xấu đi.
Chính quyền Obama đã tuyên bố Hoa Kỳ quay trở lại với châu Á và nhiều bạn bè cũ trong khu vực hoan nghênh mối quan tâm trở lại từ Washington. Tuy nhiên, nhiều người Trung Quốc nghi ngờ rằng việc Hoa Kỳ trở lại thực sự chỉ có nghĩa là để tham gia vào một hình thức ngăn chặn Trung Quốc. Thậm chí một số khác còn nói rằng kể từ khi eo biển Đài Loan trở nên bình lặng hơn với việc tổng thống Mã Anh Cửu lên nắm quyền, Hoa Kỳ đang biến vùng biển Nam Trung Hoa thành một áp lực mới để kiểm soát Trung Quốc.
Ở quốc nội, tiến trình lập pháp của Mỹ có vẻ không xuông sẻ. Các cuộc tranh cãi mới nhất về nợ trần của Mỹ dường như không đạt kết quả, trong khi lại còn chuyển hướng chú ý của các nhà lập pháp ra khỏi việc thực hiện những điều quan trọng cần phải làm. Điều này đã góp phần vào các tính toán thời Hậu- Đại suy thoái cho rằng Hoa Kỳ đang xuống dốc trong khi Trung Quốc đang đi lên. Quan trọng hơn tất cả những sự việc ấy là Hoa Kỳ hiện đang bước vào một mùa bầu cử mới, có nghĩa là cho đến nay những gì có vẻ hỗn loạn sẽ sớm trở nên trật tự hơn so với những gì sắp xảy ra.
Đóng góp to lớn của Hoa Kỳ vào thời Hậu- Đệ nhị thế chiến bị nhiều người tin rằng đang dần chấm dứt, khi Washington ngày càng thấy mình không thể tài trợ cho bất cứ điều gì ngoài việc phải chăm sóc người già và trả lãi các khoản thanh toán cho các chủ nợ của chúng ta.
Nhưng tôi nghĩ rằng trí khôn ngoan truyền thống có thể được mở ra trong đầu óc người Mỹ - đàng sau đó có thể là các thành tựu lớn nhất của Hoa Kỳ, nhưng có vẫn còn rất nhiều điều khác nữa sẽ đến.
Hoa Kỳ, như chiếc hàng không mẫu hạm mới của Trung Quốc, đến một cách chậm rãi và không phải là nhỏ để có thể thình lình sửa chữa quá trình. Thiếu một hệ thống nghị viện, từ lựa chọn của ông cha của chúng ta, chúng ta sẽ không có được những thay đổi sâu rộng mang lại từ một cuộc bầu cử riêng lẻ. Thay đổi sẽ đến từng bước theo mỗi chu kỳ bầu cử hai năm.
Vào năm 2008, công chúng đã chối bỏ đảng phái của vị tổng thống đương nhiệm và bầu chọn cho sự "Đổi thay mà chúng ta có thể tin tưởng". Sau đó, công chúng nhận thấy sự thay đổi từng hứa hẹn đã không xảy ra và bình chọn một số lượng đại biểu đối lập lớn hơn bao giờ hết của Quốc hội vào năm 2010. Và hiện nay, chúng ta đang sẵn sàng cho cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2012.
Các phán quyết về tương lai của Hoa Kỳ ngày hôm nay sẽ có ít giá trị nếu chúng không cố gắng để tính đến các kết quả trong hai cuộc bầu cử tới. Ngày hôm nay, đánh giá về tương lai của Hoa Kỳ là quá sớm, không phải vì chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao nhưng vì chúng ta biết hai chu kỳ bầu cử tiếp theo có thể sẽ mang lại thay đổi nhiều hơn chứ không phải chỉ mang lại một tính chất liên tục hơn.
Kể từ những ngày khởi đầu của Hoa Kỳ, thay đổi sau các cuộc khủng hoảng đã không từng xảy đến một cách nhanh chóng. Franklin Roosevelt phải mất 12 năm và một cuộc chiến tranh thế giới để có được nước Mỹ đi lên một lần nữa sau khi đã suy giảm từ vị trí là chủ nợ xuất khẩu hàng đầu của thế giới và trong cuộc Đại suy thoái. Ronald Reagan phải mất bốn năm sau bốn năm của Jimmy Carter để xây dựng lại xung lực mà Mỹ đã bị mất trong nạn lạm phát năm 1970 và cuộc triệt thoái khỏi Việt Nam.
Hoa Kỳ là một đất nước cởi mở, và sau sự thất bại của các định chế quốc tế nhằm bảo vệ hòa bình và phát triển đầu thế kỷ 20, Hoa Kỳ dẫn đầu công cuộc xây dựng sự cởi mở và chào đón các định chế sau Thế chiến II, chẳng hạn như Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, tỉ giá Bretton Woods và những tổ chức khác.
Thành tích này của Hoa Kỳ có lẽ là công cuộc ổn định hóa và chống lại sự mất ổn định lớn nhất lịch sử nhân loại. Hoa Kỳ chấp nhận thay đổi như là một phần không thể thiếu của sự ổn định. Vứt bỏ loại ổn định lỗi thời để ủng hộ sự ổn định của tăng trưởng và phát triển. Và đất nước này đã cho thấy rằng thế giới sau khi chiến thắng và đánh bại một cuộc chiến tranh bạo lực nhất trong lịch sử vẫn có thể sống trong hòa bình và thịnh vượng với nhau.
Nhưng trong các quan điểm khác, các phê phán về hiện diện an ninh của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã xem đât nước này như một loại di tích lỗi thời được bảo tồn từ thời Chiến tranh Lạnh, một thời đại đã kết thúc hơn 20 năm trước đây. Các liên minh và quan hệ đối tác với các nền kinh tế phát triển nhanh nhất của châu Á, những lực lượng từng một thời là những phương tiện không thể thiếu để bảo đảm sự phát triển thành công của họ, giờ chỉ được xem như sự tập trung năng lượng của Mỹ vào những xã hội không thưc thời, không sánh bước kịp - hoặc ngay cả không chống lại nổi - với năng động của một nước Trung Quốc đang nổi lên, một cuộc tái nổi dậy của Trung Quốc cho sự vượt trội ở châu Á.
Những phê phán khác còn có thể vạch ra những thiếu sót của Hoa Kỳ trong cuộc xung đột Ấn-Trung, miễn cưỡng kéo dài sự hòa giải đến cuối cuộc nội chiến Trung Quốc và thiếu thành công trong việc giúp Hàn Quốc thống nhất như thể những bằng chứng của việc Hoa Kỳ không góp phần bình ổn châu Á trong dài hạn.
Nhưng hãy để tôi thách thức hai giả định vùi sâu trong những phê phán này về vai trò an ninh và chính trị đương đại của Hoa kỳ trong khu vực.
Đầu tiên là khu vực đã đạt được một sự ổn định nội bộ vốn không còn cần đến Hoa Kỳ phải đóng một vai trò quá nổi bật. Thứ hai là ngay cả khi bùng nổ bất ổn, vẫn có đủ sự gắn kết và hợp tác nội bộ trong khu vực để xử lý được những cội nguồn mới của sự bất ổn định mà không cần có sự can thiệp từ bên ngoài. Theo logic này, sự tham gia của Mỹ có ý nghĩa là không được chờ đón và không cần thiết.
Xem xét giả định đầu tiên, thật đáng để nhìn vào triển vọng cho quá trình chuyển đổi của Trung Quốc tiếp diễn trong một hoặc hai thập kỷ tới. Nhiều nhà quan sát, thương nhân, nhà phân tích bị ấn tượng bởi các tiến bộ lớn lao mà người dân Trung Quốc đạt được trong 30 năm qua, tự nhiên có xu hướng dự đoán sự tiếp tục tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội sẽ thẳng tiến vào những thập kỷ tới.
Là một người Mỹ từng tham dự mật thiết với châu Á trong bốn thập kỷ qua, tôi có xu hướng thận trọng hơn trong đánh giá của tôi về tương lai của Trung Quốc. Chúng ta đã nhỉn thấy những dự báo như vậy trong những năm 1980 về tương lai của Nhật Bản. Ngày nay, một số người từng viết về một "G-2" của Hoa Kỳ và Trung Quốc và đã viết trong những năm 1980 về việc Tokyo, Washington sẵn sàng lãnh đạo khu vực - và toàn cầu - như thế nào - sẽ diễn ra trong những năm tới.
Trong khi đó, tất cả các nền kinh tế "con hổ châu Á" trong phần sau của thế kỷ 20, đã có thời kỳ tăng trưởng của họ, theo sau bởi sự điều chỉnh các sai trật để hạ thấp tốc độ tăng trưởng và các mô hình phát triển không còn tập trung được đến việc tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp cho đầu tư dẫn đến tăng trưởng và công nghiệp hóa. Trung Quốc đúng là những câu chuyện thành công mới và lớn nhất.
Nhưng tôi tin rằng một khi giai đoạn đầu tư hiện tại đạt đến đỉnh điểm của sự suy giảm vốn liếng nhanh chóng, mà có lẽ sẽ xảy ra trong vòng năm năm tới hoặc lâu hơn, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh cũng sẽ phải đối đầu với sự cần thiết phải thay đổi cách quản lý sai trệch. Chương trình năm năm lần thứ 12 của Trung Quốc đã cố gắng vật lộn với quá trình chuyển đổi này, nhưng rõ ràng là đang gặp phải trở ngại từ trong hệ thống, vốn chỉ có thể xảy ra những đề kháng với sự thay đổi.
Các nền kinh tế con hổ, mỗi nơi trong cách riêng của mình, cũng đã phải phát triển các tổ chức chính trị và văn hóa để quản lý các quá trình chuyển đổi kinh tế mà họ đã trải qua. Kết quả là một nền chính trị đa phương sẽ phát triển ở các bước khác nhau, theo những cách khác nhau ở các quốc gia khác nhau, nhưng thời gian qua ngày càng mang lại niềm kỳ vọng gia tăng từ công chúng. Về vấn đề này, Trung Quốc, phải đối phó với những thách thức quy mô lớn nhất của bất cứ quốc gia nào, vẫn còn một chặng đường dài trước khi bước vào giai đoạn cần thiết của sự phát triển và cải cách chính trị này.
Thực tế của việc dân Trung Quốc nuôi dưỡng một ý thức mạnh mẽ về bất mãn dân tộc, và việc Trung Quốc có một số tranh chấp chưa giải quyết được với các nước láng giềng chỉ làm rối rắm tất cả những đau khổ và phí tổn của sự thay đổi. Sau một màn hiển thị ngoạn mục của sự khôn khéo về ngoại giao và chiến lược với các nước láng giềng từ cuối những năm 1990 cho đến khoảng năm 2007, chiều kích cứng rắn của nền ngoại giao Trung Quốc đã bắt đầu vượt trội hơn phần mềm mỏng, và kể từ đó khu vực đã có phản ứng.
Nên có một chút ngạc nhiên về Trung Quốc, hoặc ở nơi khác, rằng sự trở lại châu Á của Mỹ sau phiền nhiễu của họ ở Trung Đông đang được chào đón, từ Hàn Quốc đến Indonesia và Malaysia, Ấn Độ và cả Úc ở giữa. Rằng điều này đã xảy ra tại một thời điểm khi Trung Quốc cảm thấy tự hào sau khi đã đạt được những thành công nổi tiếng - như Thế vận hội, tăng trưởng kinh tế và ổn định sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, hội chợ triển lãm Thượng Hải - chỉ tăng thêm những cảm xúc vào thời điểm này.
Khi những khó khăn chuyển đổi kinh tế mà Trung Quốc gặp phải dần lộ ra, tôi tin rằng những gì đang có vẻ là cơ hội kinh doanh của các nước ở Trung Quốc, có thể trở thành các vấn nạn hoặc thậm chí những bất lợi. Các thử thách đối với hệ thống kinh tế và chính trị của Trung Quốc và những tiềm năng vọng động của họ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, tất cả sẽ củng cố xu hướng ngày càng tăng đến việc các nước "che chắn" mối quan hệ quốc tế của họ kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh . Đối với các nước láng giềng của Trung Quốc, trong không khí thay đổi này - và tôi sẽ đánh giá ngay cả đối với chính bản thân Trung Quốc - thế đối trọng và sự hiện diện của Mỹ sẽ đa phần giúp vào ổn định hơn là gây ra bất ổn.
Về giả định thứ hai - rằng châu Á đã đạt đến một thời điểm gắn kết, khi sự hiện diện của Mỹ và các hoạt động không còn là cần thiết so với trước đây - tôi chỉ có thể nói rằng tôi mong ước được là như thế. Đôi khi, những người phê bình Hoa Kỳ nói rằng người Mỹ rất gắn bó với các mạng lưới đồng minh "phối hợp" (tạm dịch: hub and spokes-ND) của mình khiến họ đang ngăn cản con đường tiến bộ về kiến trúc an ninh để xử lý các vấn đề của khu vực.
Tuy nhiên, những gì từng xảy ra không hỗ trợ một giải thích như vậy. Khi Úc hình thành Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Hoa Kỳ cung cấp hỗ trợ vô điều kiện. Nhưng khi Mahathir bin Mohamad đã đề xuất một "khu vực Đông Á Caucus," Washington và bạn bè của mình đã nhìn đó như một nỗ lực chia rẽ nhằm buộc lực lượng Hoa Kỳ phải ra khỏi các vấn đề của châu Á - Thái Bình Dương một cách không tự nhiên.
Hoa Kỳ cũng tham gia trong các nền tảng của cuộc Đàm phán Lục quốc nhằm phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên theo mệnh lệnh của Trung Quốc. Cho đến nay, các kết quả khác nhau của quá trình này đã dạy chúng ta rất nhiều bài học, nhưng đã không khiến Hoa Kỳ phải từ bỏ quá trình. Thật vậy, với suy tính của Trung Quốc đang diễn ra, ngày nay Hoa Kỳ đang dành cho các đàm phám một định dạng khác để tự chứng minh.
Một chính quyền Bush vướng bận với các khó khăn đã khó có thể trả lời có hay không đến khái niệm về Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS), nhưng chính quyền mới của Obama cũng đã đề nghị để cho hội nghị này một cơ hội thử nghiệm, trong khi ký Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại như là một điều kiện tiên quyết có thể chấp nhận . Nhưng các diễn đàn đa phương vẫn còn ở giai đoạn phôi thai và chưa chứng minh sức mạnh và độ bền của chúng. Cho đến khi chúng ta có được các cơ chế an ninh và kinh tế trong khu vực khiến tạo nên các kết quả quan trọng đáng tin cậy theo thời gian, khi ấy sẽ quả là điên rồ để mà từ bỏ các cấu trúc và những thói quen từng mang châu Á đến thời điểm này của sự tương đối thành công ngày hôm nay.
Hơn nữa, căn cứ vào việc một đảng phái lớn nhất đối với cuộc đối thoại Châu Á-Thái Bình Dương có vẻ phải đối diện với những thách thức chuyển tiếp quan trọng, điều này nhấn mạnh lên tính liên tục trong an ninh sẽ thận trọng hơn.
Do đó, trở lại ý tưởng rằng Hoa Kỳ có vẻ đi xuống (và một số có thể đã nói thẳng ra như vậy) vì hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính và sự bế tắc trong nước. Tôi muốn nhắc nhở rằng người châu Á không nên đánh giá sớm về Hoa Kỳ - và tôi cũng không nghĩ rằng họ sẽ hành động như vậy.
Hoa Kỳ vẫn còn là một quốc gia cực kỳ giàu có và công nghệ tiên tiến. Tính dẫn đạo của đất nước này trong hầu hết các lĩnh vực đang mở rộng ra hơn là thu hẹp lại, mặc dù vẫn cần phải tìm cách điều chỉnh sự phân bố của cải rộng lớn của mình, không thông qua quyết định của nhà nước đối với cá nhân, nhưng bằng cách tạo ra ưu đãi cho các cá nhân để triển khai tài sản của họ trong những phương cách chặt chẽ và có hiệu quả. Quá trình đó dù đang được tiến hành trong một cách mạnh mẽ và có vẻ như không khả thi. Nhưng tôi vẫn tin tưởng rằng nó sẽ mang lại một nước Mỹ mà sự hiện diện và tham dự của mình sẽ được xem như là một đóng góp cho sự ổn định hơn một yếu tố cho bất ổn.

Douglas H. Paal là phó chủ tịch nghiên cứu tại Quỹ Carnegie cho Hòa bình Quốc tế. Đây là một phiên bản thay đổi của nội dung một bài viết từng giới thiệu ở đây.
Nguồn: The Diplomat

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Quả táo và nước Mỹ


Chỉ có ở nước Mỹ mới có một người thành công như Steve Jobs. Nhiều người ví Steve Jobs với Henry Ford, Thomas Edison, những doanh nhân đã làm cách mạng trong ngành hoạt động của họ.
 
Các sản phẩm họ đưa ra thị trường thay đổi đời sống của hàng trăm triệu con người. Với Henry Ford là xe hơi, với Thomas Edison là máy hát, máy quay phim, bóng đèn, với hơn 1000 bằng sáng chế. Với Steven Jobs là Macintosh, iPod, iPhones, iPads.

Giấc mộng của Steve Jobs, có lúc nói với Wosniak, là sẽ dựng lên một công ty trị giá 10 tỷ Mỹ kim, mà “không mất linh hồn”. Khi Steve Jobs chết, 56 tuổi, công ty Apple trị giá 350 tỷ đô la, Jobs được cả thế giới nhớ tới như một doanh nhân lỗi lạc. Linh hồn của Apple vẫn là luôn luôn tìm cái mới, dám liều lĩnh làm cái mới, và nghĩ đến người trước khi nghĩ đến máy.

Không có chính phủ nào đủ nhân lực, tài nguyên và khả năng điều khiển cuộc sống kinh tế để đẻ ra những Apple hay McDonald; những Mark Zuckerberg (Facebook), Bill Gates (Microsoft), Larry Page (Google), hay Michael Dell (Dell). Họ thành công không phải chỉ nhờ kinh tế thị trường. Bộ Quốc Phòng Mỹ có thể đã trả tiền cho những người sáng tạo ra kỹ thuật làm thành Internet. Nhưng muốn Internet được phổ biến, thay đổi đời sống hàng tỷ con người, phải chờ các doanh nhân. Kinh tế thị trường và chế độ tự do dân chủ là môi trường sản xuất ra những người sáng tạo, dám chấp nhận rủi ro, những người làm cách mạng trong đời sống hàng ngày cho mỗi ngày một tốt hơn. Quan trọng nhất là họ sống trong một xã hội tự do, dân chủ, tôn trọng luật pháp, trong đó có những luật lệ bảo vệ tài sản. Một món tài sản cần bảo vệ là bằng sáng chế, phát minh. Jonathan Mak sống ở một môi trường tự do và trọng pháp cho nên đã nghĩ ngay tới việc xin phép Apple sử dụng hình trái táo.

Nhiều người chỉ trích công ty Apple về tội “đưa công việc làm sang Trung Quốc” khi thấy những sản phẩm có chữ Made in China. Sự thực không phải.
Một cái iPad bán giá 499 đô la, thì trong đó chỉ có 12 đô la trả cho các xí nghiệp và công nhân Trung Hoa làm việc ráp các bộ phận lại. Có 250 đô la trả cho các công ty Samsung ở Ðại Hàn, Toshiba ở Nhật, Broadcom ở Mỹ, còn cái pin dựng trong đó là do công ty Amperex Technology ở Hồng Kông, do công ty TDK Nhật Bản làm chủ. Ngoài ra còn những bộ phận được chế tạo ở nhiều nước khắp thế giới. Phần lớn nhất trong số 499 đô la một chiếc iPad trả cho các cổ đông công ty Apple, dùng để trả tiền các bằng sáng chế, lương nhân viên, và đóng thuế. Ðây là một thành quả của nền kinh tế toàn cầu hóa.

 Chỉ có một nền kinh tế thị trường trong một xã hội tự do dân chủ, mọi người bình đẳng pháp luật và bình đẳng cơ hội mới đẻ ra những nhà kinh doanh thành công như Steve Jobs. Những người biểu tình chống Wall Street không chống tất cả hệ thống kinh tế và chánh trị nước Mỹ. Ðúng ra là họ có thiện chí muốn cải thiện hệ thống đó. Họ đúng hay sai, không quan trọng. Trong chế độ dân chủ tự do, sau cùng các cử tri sẽ chọn muốn thay đổi cái gì, thay đổi ra sao. Bốn năm một lần, dân Mỹ có thể bắt đầu làm lại. Ðiều quan trọng là xã hội có tự do, ai cũng có quyền hội họp ngoài đường, có quyền phát biểu ý kiến. Bảo vệ các quyền tự do đó cần thiết hơn cả việc bảo vệ một hệ thống kinh tế tài chánh mà lúc nào người ta cũng thay đổi được.