Phải chăng Mỹ đang gây bất ổn trong khu vực châu Á ?Tại
một thời điểm nhiều chuyển biến, khu vực châu Á-Thái Bình Dương nên gắn
bó với các đảm bảo an ninh đã từng mang lại hòa bình và thịnh vượng
tương đối. Còn quá sớm để loại Hoa Kỳ ra khỏi các tính toán.
Hoa Kỳ
là một yếu tố làm ổn định hay mất ổn định trong khu vực châu Á-Thái Bình
Dương? Khi nghe câu hỏi này, hầu hết người Mỹ, tất nhiên sẽ cho Hoa Kỳ
là một yếu tố tạo nên ổn định. Nhưng tôi ngờ rằng hầu hết người Trung
Quốc (và một số người khác) sẽ không đồng ý như thế.
Hành vi của Mỹ
gần đây ở trong nước và ở nước ngoài có xu hướng củng cố câu hỏi liệu
Hoa Kỳ có thực sự là một yếu tố cho ổn định hay không. Một ví dụ gần
đây: chính quyền của Tổng thống Obama, sau khi tuyên bố rằng Mỹ đã đặt
những nỗ lực chống khủng bố trong một cuộc chiến sai lầm (ở Iraq) thay
vì đúng chỗ (ở Afghanistan), công bố "tăng thêm quân tại Afghanistan,
chỉ để đồng thời thông báo ý định rút quân của mình. Các nước láng giềng
của Afghanistan đã chỉ nghe về sau và bỏ qua về đầu của lời tuyên bố.
Sự lệ thuộc của Hoa Kỳ vào Pakistan tăng lên, nhưng mối quan hệ với
Islamabad lại nhanh chóng xấu đi.
Chính quyền Obama đã tuyên bố Hoa
Kỳ quay trở lại với châu Á và nhiều bạn bè cũ trong khu vực hoan nghênh
mối quan tâm trở lại từ Washington. Tuy nhiên, nhiều người Trung Quốc
nghi ngờ rằng việc Hoa Kỳ trở lại thực sự chỉ có nghĩa là để tham gia
vào một hình thức ngăn chặn Trung Quốc. Thậm chí một số khác còn nói
rằng kể từ khi eo biển Đài Loan trở nên bình lặng hơn với việc tổng
thống Mã Anh Cửu lên nắm quyền, Hoa Kỳ đang biến vùng biển Nam Trung Hoa
thành một áp lực mới để kiểm soát Trung Quốc.
Ở quốc nội, tiến trình
lập pháp của Mỹ có vẻ không xuông sẻ. Các cuộc tranh cãi mới nhất về nợ
trần của Mỹ dường như không đạt kết quả, trong khi lại còn chuyển hướng
chú ý của các nhà lập pháp ra khỏi việc thực hiện những điều quan trọng
cần phải làm. Điều này đã góp phần vào các tính toán thời Hậu- Đại suy
thoái cho rằng Hoa Kỳ đang xuống dốc trong khi Trung Quốc đang đi lên.
Quan trọng hơn tất cả những sự việc ấy là Hoa Kỳ hiện đang bước vào một
mùa bầu cử mới, có nghĩa là cho đến nay những gì có vẻ hỗn loạn sẽ sớm
trở nên trật tự hơn so với những gì sắp xảy ra.
Đóng góp to lớn của
Hoa Kỳ vào thời Hậu- Đệ nhị thế chiến bị nhiều người tin rằng đang dần
chấm dứt, khi Washington ngày càng thấy mình không thể tài trợ cho bất
cứ điều gì ngoài việc phải chăm sóc người già và trả lãi các khoản thanh
toán cho các chủ nợ của chúng ta.
Nhưng tôi nghĩ rằng trí khôn ngoan
truyền thống có thể được mở ra trong đầu óc người Mỹ - đàng sau đó có
thể là các thành tựu lớn nhất của Hoa Kỳ, nhưng có vẫn còn rất nhiều
điều khác nữa sẽ đến.
Hoa Kỳ, như chiếc hàng không mẫu hạm mới của
Trung Quốc, đến một cách chậm rãi và không phải là nhỏ để có thể thình
lình sửa chữa quá trình. Thiếu một hệ thống nghị viện, từ lựa chọn của
ông cha của chúng ta, chúng ta sẽ không có được những thay đổi sâu rộng
mang lại từ một cuộc bầu cử riêng lẻ. Thay đổi sẽ đến từng bước theo mỗi
chu kỳ bầu cử hai năm.
Vào năm 2008, công chúng đã chối bỏ đảng phái
của vị tổng thống đương nhiệm và bầu chọn cho sự "Đổi thay mà chúng ta
có thể tin tưởng". Sau đó, công chúng nhận thấy sự thay đổi từng hứa hẹn
đã không xảy ra và bình chọn một số lượng đại biểu đối lập lớn hơn bao
giờ hết của Quốc hội vào năm 2010. Và hiện nay, chúng ta đang sẵn sàng
cho cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2012.
Các phán quyết về tương lai
của Hoa Kỳ ngày hôm nay sẽ có ít giá trị nếu chúng không cố gắng để tính
đến các kết quả trong hai cuộc bầu cử tới. Ngày hôm nay, đánh giá về
tương lai của Hoa Kỳ là quá sớm, không phải vì chúng ta không biết tương
lai sẽ ra sao nhưng vì chúng ta biết hai chu kỳ bầu cử tiếp theo có thể
sẽ mang lại thay đổi nhiều hơn chứ không phải chỉ mang lại một tính
chất liên tục hơn.
Kể từ những ngày khởi đầu của Hoa Kỳ, thay đổi sau
các cuộc khủng hoảng đã không từng xảy đến một cách nhanh chóng.
Franklin Roosevelt phải mất 12 năm và một cuộc chiến tranh thế giới để
có được nước Mỹ đi lên một lần nữa sau khi đã suy giảm từ vị trí là chủ
nợ xuất khẩu hàng đầu của thế giới và trong cuộc Đại suy thoái. Ronald
Reagan phải mất bốn năm sau bốn năm của Jimmy Carter để xây dựng lại
xung lực mà Mỹ đã bị mất trong nạn lạm phát năm 1970 và cuộc triệt thoái
khỏi Việt Nam.
Hoa Kỳ là một đất nước cởi mở, và sau sự thất bại của
các định chế quốc tế nhằm bảo vệ hòa bình và phát triển đầu thế kỷ 20,
Hoa Kỳ dẫn đầu công cuộc xây dựng sự cởi mở và chào đón các định chế sau
Thế chiến II, chẳng hạn như Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới,
tỉ giá Bretton Woods và những tổ chức khác.
Thành tích này của Hoa
Kỳ có lẽ là công cuộc ổn định hóa và chống lại sự mất ổn định lớn nhất
lịch sử nhân loại. Hoa Kỳ chấp nhận thay đổi như là một phần không thể
thiếu của sự ổn định. Vứt bỏ loại ổn định lỗi thời để ủng hộ sự ổn định
của tăng trưởng và phát triển. Và đất nước này đã cho thấy rằng thế giới
sau khi chiến thắng và đánh bại một cuộc chiến tranh bạo lực nhất trong
lịch sử vẫn có thể sống trong hòa bình và thịnh vượng với nhau.
Nhưng
trong các quan điểm khác, các phê phán về hiện diện an ninh của Mỹ
trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã xem đât nước này như một loại di
tích lỗi thời được bảo tồn từ thời Chiến tranh Lạnh, một thời đại đã
kết thúc hơn 20 năm trước đây. Các liên minh và quan hệ đối tác với các
nền kinh tế phát triển nhanh nhất của châu Á, những lực lượng từng một
thời là những phương tiện không thể thiếu để bảo đảm sự phát triển thành
công của họ, giờ chỉ được xem như sự tập trung năng lượng của Mỹ vào
những xã hội không thưc thời, không sánh bước kịp - hoặc ngay cả không
chống lại nổi - với năng động của một nước Trung Quốc đang nổi lên, một
cuộc tái nổi dậy của Trung Quốc cho sự vượt trội ở châu Á.
Những phê
phán khác còn có thể vạch ra những thiếu sót của Hoa Kỳ trong cuộc xung
đột Ấn-Trung, miễn cưỡng kéo dài sự hòa giải đến cuối cuộc nội chiến
Trung Quốc và thiếu thành công trong việc giúp Hàn Quốc thống nhất như
thể những bằng chứng của việc Hoa Kỳ không góp phần bình ổn châu Á trong
dài hạn.
Nhưng hãy để tôi thách thức hai giả định vùi sâu trong
những phê phán này về vai trò an ninh và chính trị đương đại của Hoa kỳ
trong khu vực.
Đầu tiên là khu vực đã đạt được một sự ổn định nội bộ
vốn không còn cần đến Hoa Kỳ phải đóng một vai trò quá nổi bật. Thứ hai
là ngay cả khi bùng nổ bất ổn, vẫn có đủ sự gắn kết và hợp tác nội bộ
trong khu vực để xử lý được những cội nguồn mới của sự bất ổn định mà
không cần có sự can thiệp từ bên ngoài. Theo logic này, sự tham gia của
Mỹ có ý nghĩa là không được chờ đón và không cần thiết.
Xem xét giả
định đầu tiên, thật đáng để nhìn vào triển vọng cho quá trình chuyển đổi
của Trung Quốc tiếp diễn trong một hoặc hai thập kỷ tới. Nhiều nhà quan
sát, thương nhân, nhà phân tích bị ấn tượng bởi các tiến bộ lớn lao mà
người dân Trung Quốc đạt được trong 30 năm qua, tự nhiên có xu hướng dự
đoán sự tiếp tục tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội sẽ thẳng tiến vào
những thập kỷ tới.
Là một người Mỹ từng tham dự mật thiết với châu Á
trong bốn thập kỷ qua, tôi có xu hướng thận trọng hơn trong đánh giá
của tôi về tương lai của Trung Quốc. Chúng ta đã nhỉn thấy những dự báo
như vậy trong những năm 1980 về tương lai của Nhật Bản. Ngày nay, một số
người từng viết về một "G-2" của Hoa Kỳ và Trung Quốc và đã viết trong
những năm 1980 về việc Tokyo, Washington sẵn sàng lãnh đạo khu vực - và
toàn cầu - như thế nào - sẽ diễn ra trong những năm tới.
Trong khi
đó, tất cả các nền kinh tế "con hổ châu Á" trong phần sau của thế kỷ 20,
đã có thời kỳ tăng trưởng của họ, theo sau bởi sự điều chỉnh các sai
trật để hạ thấp tốc độ tăng trưởng và các mô hình phát triển không còn
tập trung được đến việc tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp cho đầu tư dẫn
đến tăng trưởng và công nghiệp hóa. Trung Quốc đúng là những câu chuyện
thành công mới và lớn nhất.
Nhưng tôi tin rằng một khi giai đoạn đầu
tư hiện tại đạt đến đỉnh điểm của sự suy giảm vốn liếng nhanh chóng, mà
có lẽ sẽ xảy ra trong vòng năm năm tới hoặc lâu hơn, các nhà lãnh đạo
Bắc Kinh cũng sẽ phải đối đầu với sự cần thiết phải thay đổi cách quản
lý sai trệch. Chương trình năm năm lần thứ 12 của Trung Quốc đã cố gắng
vật lộn với quá trình chuyển đổi này, nhưng rõ ràng là đang gặp phải trở
ngại từ trong hệ thống, vốn chỉ có thể xảy ra những đề kháng với sự
thay đổi.
Các nền kinh tế con hổ, mỗi nơi trong cách riêng của mình,
cũng đã phải phát triển các tổ chức chính trị và văn hóa để quản lý các
quá trình chuyển đổi kinh tế mà họ đã trải qua. Kết quả là một nền chính
trị đa phương sẽ phát triển ở các bước khác nhau, theo những cách khác
nhau ở các quốc gia khác nhau, nhưng thời gian qua ngày càng mang lại
niềm kỳ vọng gia tăng từ công chúng. Về vấn đề này, Trung Quốc, phải đối
phó với những thách thức quy mô lớn nhất của bất cứ quốc gia nào, vẫn
còn một chặng đường dài trước khi bước vào giai đoạn cần thiết của sự
phát triển và cải cách chính trị này.
Thực tế của việc dân Trung Quốc
nuôi dưỡng một ý thức mạnh mẽ về bất mãn dân tộc, và việc Trung Quốc có
một số tranh chấp chưa giải quyết được với các nước láng giềng chỉ làm
rối rắm tất cả những đau khổ và phí tổn của sự thay đổi. Sau một màn
hiển thị ngoạn mục của sự khôn khéo về ngoại giao và chiến lược với các
nước láng giềng từ cuối những năm 1990 cho đến khoảng năm 2007, chiều
kích cứng rắn của nền ngoại giao Trung Quốc đã bắt đầu vượt trội hơn
phần mềm mỏng, và kể từ đó khu vực đã có phản ứng.
Nên có một chút
ngạc nhiên về Trung Quốc, hoặc ở nơi khác, rằng sự trở lại châu Á của Mỹ
sau phiền nhiễu của họ ở Trung Đông đang được chào đón, từ Hàn Quốc đến
Indonesia và Malaysia, Ấn Độ và cả Úc ở giữa. Rằng điều này đã xảy ra
tại một thời điểm khi Trung Quốc cảm thấy tự hào sau khi đã đạt được
những thành công nổi tiếng - như Thế vận hội, tăng trưởng kinh tế và ổn
định sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, hội chợ triển lãm Thượng
Hải - chỉ tăng thêm những cảm xúc vào thời điểm này.
Khi những khó
khăn chuyển đổi kinh tế mà Trung Quốc gặp phải dần lộ ra, tôi tin rằng
những gì đang có vẻ là cơ hội kinh doanh của các nước ở Trung Quốc, có
thể trở thành các vấn nạn hoặc thậm chí những bất lợi. Các thử thách đối
với hệ thống kinh tế và chính trị của Trung Quốc và những tiềm năng
vọng động của họ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, tất cả sẽ
củng cố xu hướng ngày càng tăng đến việc các nước "che chắn" mối quan hệ
quốc tế của họ kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh . Đối với các nước
láng giềng của Trung Quốc, trong không khí thay đổi này - và tôi sẽ đánh
giá ngay cả đối với chính bản thân Trung Quốc - thế đối trọng và sự
hiện diện của Mỹ sẽ đa phần giúp vào ổn định hơn là gây ra bất ổn.
Về
giả định thứ hai - rằng châu Á đã đạt đến một thời điểm gắn kết, khi sự
hiện diện của Mỹ và các hoạt động không còn là cần thiết so với trước
đây - tôi chỉ có thể nói rằng tôi mong ước được là như thế. Đôi khi,
những người phê bình Hoa Kỳ nói rằng người Mỹ rất gắn bó với các mạng
lưới đồng minh "phối hợp" (tạm dịch: hub and spokes-ND) của mình khiến
họ đang ngăn cản con đường tiến bộ về kiến trúc an ninh để xử lý các vấn
đề của khu vực.
Tuy nhiên, những gì từng xảy ra không hỗ trợ một
giải thích như vậy. Khi Úc hình thành Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình
Dương (APEC), Hoa Kỳ cung cấp hỗ trợ vô điều kiện. Nhưng khi Mahathir
bin Mohamad đã đề xuất một "khu vực Đông Á Caucus," Washington và bạn bè
của mình đã nhìn đó như một nỗ lực chia rẽ nhằm buộc lực lượng Hoa Kỳ
phải ra khỏi các vấn đề của châu Á - Thái Bình Dương một cách không tự
nhiên.
Hoa Kỳ cũng tham gia trong các nền tảng của cuộc Đàm phán Lục
quốc nhằm phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên theo mệnh lệnh của Trung
Quốc. Cho đến nay, các kết quả khác nhau của quá trình này đã dạy chúng
ta rất nhiều bài học, nhưng đã không khiến Hoa Kỳ phải từ bỏ quá trình.
Thật vậy, với suy tính của Trung Quốc đang diễn ra, ngày nay Hoa Kỳ đang
dành cho các đàm phám một định dạng khác để tự chứng minh.
Một chính
quyền Bush vướng bận với các khó khăn đã khó có thể trả lời có hay
không đến khái niệm về Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS), nhưng chính
quyền mới của Obama cũng đã đề nghị để cho hội nghị này một cơ hội thử
nghiệm, trong khi ký Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại như là một điều
kiện tiên quyết có thể chấp nhận . Nhưng các diễn đàn đa phương vẫn còn ở
giai đoạn phôi thai và chưa chứng minh sức mạnh và độ bền của chúng.
Cho đến khi chúng ta có được các cơ chế an ninh và kinh tế trong khu vực
khiến tạo nên các kết quả quan trọng đáng tin cậy theo thời gian, khi
ấy sẽ quả là điên rồ để mà từ bỏ các cấu trúc và những thói quen từng
mang châu Á đến thời điểm này của sự tương đối thành công ngày hôm nay.
Hơn
nữa, căn cứ vào việc một đảng phái lớn nhất đối với cuộc đối thoại Châu
Á-Thái Bình Dương có vẻ phải đối diện với những thách thức chuyển tiếp
quan trọng, điều này nhấn mạnh lên tính liên tục trong an ninh sẽ thận
trọng hơn.
Do đó, trở lại ý tưởng rằng Hoa Kỳ có vẻ đi xuống (và một
số có thể đã nói thẳng ra như vậy) vì hậu quả của cuộc khủng hoảng tài
chính và sự bế tắc trong nước. Tôi muốn nhắc nhở rằng người châu Á không
nên đánh giá sớm về Hoa Kỳ - và tôi cũng không nghĩ rằng họ sẽ hành
động như vậy.
Hoa Kỳ vẫn còn là một quốc gia cực kỳ giàu có và công
nghệ tiên tiến. Tính dẫn đạo của đất nước này trong hầu hết các lĩnh vực
đang mở rộng ra hơn là thu hẹp lại, mặc dù vẫn cần phải tìm cách điều
chỉnh sự phân bố của cải rộng lớn của mình, không thông qua quyết định
của nhà nước đối với cá nhân, nhưng bằng cách tạo ra ưu đãi cho các cá
nhân để triển khai tài sản của họ trong những phương cách chặt chẽ và có
hiệu quả. Quá trình đó dù đang được tiến hành trong một cách mạnh mẽ và
có vẻ như không khả thi. Nhưng tôi vẫn tin tưởng rằng nó sẽ mang lại
một nước Mỹ mà sự hiện diện và tham dự của mình sẽ được xem như là một
đóng góp cho sự ổn định hơn một yếu tố cho bất ổn.
Douglas H. Paal là
phó chủ tịch nghiên cứu tại Quỹ Carnegie cho Hòa bình Quốc tế. Đây là
một phiên bản thay đổi của nội dung một bài viết từng giới thiệu ở đây.
Nguồn: The Diplomat