thư mục

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

Qua quán Cafe

Qua quan cafe

Trước hết café có hai giống chính khác nhau là Robusta và Arabica. Rubusta, như cái tên nó thể hiện, rất là robust, tức là mạnh, là nhiều cafeine, là mất ngủ nhiều. Arabica thì trái lại, ít độc hại hơn, nhưng có nhiều hương thơm (aroma). Nghệ thuật sản xuất café bắt đầu từ việc lựa chọn hạt café, và pha một tỷ lệ thích hợp giữa hai giống café này.

Arabica

là loại café hạt hơi dài, được trồng ở độ cao trên 600m, khí hậu mát mẻ, được trồng chủ yếu ở Braxin, và chiếm tới 2/3 lượng café hiện nay trên thế giới.
Cách chế biến mới là điểm tạo ra sự khác biệt giữa Arabica va Robusta. Quả Arabica được thu hoạch, rồi lên men (ngâm nước cho nở...) rồi rửa sạch rồi sấy. Chính vì thế, vị của Arabica hơi chua, và đây cũng được coi là 1 đặc điểm cảm quan của loại café này. Vì thế, nói đến "hậu vị" của café là có thật, nhưng không phải là vị chua, mà phải chuyển từ chua sang đắng (kiểu socola ý, sau khi nuốt mới là café ngon). Người ta thường ví vị chua đó giống như khi mình ăn chanh, sẽ thấy rất chua, nhưng lập tức thấy được vị đắng của vỏ. Cách cảm nhận vị chua của café cũng như vậy.

Robusta

Hạt nhỏ hơn arabica, và được sấy trực tiếp, chứ không phải lên men, vị đắng chiếm chủ yếu, loại này uống phê hơn. Được trồng ở độ cao dưới 600m, khí hậu nhiệt đới, vì thế có mặt ở nhiều nước hơn (VN chỉ trồng loại này). Việt nam là cường quốc xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ hai trên thế giới (sau Brazin) và phần lớn là robusta, tổng lượng chiếm 1/3 lượng café tiêu thụ trên toàn thế giới.

Culi

Là những hạt café no tròn. Đặc biệt là trong một trái chỉ có duy nhất một hạt. Vị đắng gắt, hương thơm say đắm, hàm lượng cafein cao, nuớc màu đen sánh đó là những gì mà café Culi mang đến. Đó là quá trình kết hợp tinh túy của sự duy nhất.

Cherry

Cherry hay còn gọi là café mít gồm có 2 giống chính là Liberica và Exelsa. Loại này không được phổ biến lắm, nhưng đây là loại có khả năng chống chịu sâu bệnh rất tốt và năng suất rất cao. Được trồng ở những vùng đất khô đầy gió và nắng của vùng cao nguyên.
Cherry mang một đặc điểm và hương vị rất khác lạ của một loài cây trưởng thành dưới nắng và gió của Cao Nguyên. Hạt café vàng, sáng bóng rất đẹp. Khi pha tạo ra mùi thơm thoang thoảng, đặc biệt là vị chua của cherry tạo ra một cảm giác thật sảng khoái. Cherry rất thích hợp với sở thích của phái nữ với sự hòa quyện giữa mùi và vị tạo ra một cảm giác dân dã, cao sang quý phái hòa quyện nhau thât sâu sắc.

Moka

Moka là một loài café thuộc chi Arabica, được người Pháp di thực từ những năm 30 của thế kỉ trước, trồng ở Dalat, Lâm đồng. Trong các họ, giống café này khó trồng nhất, đòi hỏi công chăm sóc rất kỹ, dể bị sâu bệnh, cần có điều kiện môi trường lẫn kỹ thuận chăm bón đặc thù, nhưng năng xuất lại rất ít. Cây café Moka  chỉ có thể sinh truởng và phát triển ở độ cao từ 1500m nên không trồng được ở Buôn mê Thuộc là thủ phủ của café Việt nam. Hằng năm nước ta xuất khẩu trên một triệu tấn café hầu như phần lớn là café Robusta trồng ở Buôn Mê thuộc và một số tỉnh khác. Cho nên, ở Việt nam Mo ka là café quí hiếm, luôn có giá cao hơn các loại café khác. Có thể thấy, không có nhiều người giữa chúng ta có dịp thưởng Moka nguyên chất, dù trên thế giới tiêu thụ đến 80%  café Arabica, Moka. Càng lên cao, cộng thêm với điều kiện thổ nhưỡng, canh tác phù hợp thì  hương vị và chất lượng của Moka càng tuyệt vời. Ở việt nam Café Moka trồng ở Tỉnh Lâm Đồng với độ cao từ trên 1000m, nhưng chỉ ở vùng cầu đất thuộc Thành phố Đalat với độ cao 1600m là café Moka thơm ngon nhất. Có thể nói Moka là hoàng hậu trong vương quốc café, hạt moka lớn và đẹp hơn nhiều so với giống khác, hương thơm của nó rất đặc biệt, rất sang trọng, ngây ngất, vị hơi chua một cách thanh thoát, dành cho người sành điệu. Một khi đã vui hưởng được hương vị đích thực của Moka rồi, người ta sẽ luôn nhớ đến nó hơn bất kỳ loại café nào. Moka thơm quí phái và có vị đặc trưng là khẩu vị lựa chọn hàng đầu của các nước Châu Âu và Mỹ.

gu uống cafe gu cafe cà phê rang  Nhận biết cafe ngon, cafe nguyên chất
Nhận biết cafe ngon, cafe nguyên chất
  
Làm thế nào nhận biết bịch cà phê bạn mua về thực sự là bịch cà phê? Làm thế nào để biết ly cà phê bạn đang uống là cà phê có lợi cho sức khỏe, cho tuổi thọ và cho nhan sắc của bạn.

Câu trả lời quá dễ, không khó tí nào. Cà phê là một loại hạt rất đặc biệt, và khác biệt, có thể dễ dàng phân biệt cà phê nguyên chất và không nguyên chất, bột cà phê với bột của các loại hạt ngũ cốc khác. Để bảo đảm cho sức khỏe và khẩu vị thưởng thức cà phê đích thực của chính bạn, bạn cần ghi nhớ vài chi tiết căn bản về thuộc tính của hạt cà phê rang rất khác với các loại hạt rang khác và bột của chúng:

I. PHÂN BIỆT TRƯỚC KHI PHA – TỨC NHẬN BIẾT BỘT CÀ PHÊ NGUYÊN CHẤT

Bột cà phê nhẹ, tơi, xốp, khối lượng riêng nhỏ

 1. Khối lượng (hoặc thể tích) của bột cà phê rang bao giờ cũng lớn hơn khối lượng (hoặc thể tích) của bột hạt đậu nành (đỗ tương) và bắp rang:

Hạt cà phê có một đặc điểm khác hẳn các loại hạt khác là khi rang lên đến 1 nhiệt độ nhất định sẽ nở lớn và thể tích tăng từ 1,5-2 lần và trọng lượng giảm từ 20-30%.

Cho nên, bột cà phê luôn luôn có khối lượng riêng thấp hơn bột các loại ngũ cốc khác và từ đó thể tích (hay khối lượng) của 1 kg bột cà phê luôn luôn lớn hơn thể tích của bột các loại ngũ cốc rang.

Dựa vào đặc tính này bạn có thể phân biệt ngay từ lúc đầu, dù chưa cần phải mở bao bì ra. Nếu có điều kiện so sánh, bạn cầm trong tay 2 bịch 500g, bịch nào chứa cà phê, (hay chứa tỷ lệ bột cà phê nhiều) thì sẽ nhiều, đầy hơn, to hơn, khối lượng bột chứa bên trong nhiều hơn nên chúng ta có cảm tưởng bịch cà phê nguyên chất nhẹ hơn.

2. Độ xốp của bột cà phê:

gu uống cafe gu cafe cà phê rang  Nhận biết cafe ngon, cafe nguyên chất
Nhìn theo cảm quan, bột cà phê nguyên chất rất nhẹ, có độ xốp , tơi và rời. Bột của hạt ngũ cốc khác thường dính lại, ít tơi bong hơn. Nếu bạn có một bịch cà phê nguyên chất và một bịch cà phê không nguyên chất, bạn mở 2 bịch ra, lấy 2 chén nước, múc 2 muỗng bột của 2 bịch đổ lên mặt nước. Bột cà phê nguyên chất xốp nhẹ, có khối lượng riêng thấp, nên có khuynh hướng nổi lên trên, còn bột của các hạt ngũ cốc khác có khối lượng riêng lớn hơn, nên chìm xuống nhanh hơn.

Ngoài ra, hạt cà phê rang rất giòn, có cấu trúc sợi cellulose đồng đều, dễ vỡ và vỡ đều trong cối xay, nên bột cà phê xay ra có độ xốp, mịn tương đối đồng đều. Trái lại các loại hạt đậu, bắp rang, khi xay bột độ mịn không đồng đều nên không có độ tơi xốp như bột cà phê nguyên chất.

3. Độ ẩm của bột cà phê:

Bột cà phê màu nâu đậm, độ mịn đồng đều.

Bột cà phê nguyên chất ít ngậm nước, không có nhiều độ ẩm. Bột các loại ngũ cốc khác thường giữ nước và có độ ẩm cao hơn. Hơn nữa, do hạt đậu và bắp không có mùi thơm, nên khi nhà sản xuất trộn các loại hạt này vào hạt cà phê chắc chắn sẽ làm 1 động tác kèm theo, đó là rưới hóa chất, hương liệu cà phê tổng hợp, nhân tạo vào trước khi xay ra bột. Do đó, bột cà phê pha tạp, không nguyên chất có vẻ ẩm ướt, thậm chí vón cục khi được tẩm nhiều caramen tạo màu, khác hẳn với bột cà phê nguyên chất rất khô và tơi xốp.

4. Màu của bột cà phê:

Khi rang đến nhiệt độ và thời gian thích hợp…bột cà phê có màu nâu đậm (nếu hạt cà phê rang chưa đến nhiệt độ và thời gian nổ lần 1 thì bột có màu vàng sáng vị chua, và mùi nồng).

Hạt bắp rang để độn vào cà phê thường có màu đen đậm. Cho nên trong nghề làm cà phê người ta đơn giản gọi bắp rang là Màu. Do thói quen người tiêu dùng đòi hỏi ly cà phê phải có màu đen, nên Màu (bên cạnh caramen và cả chất tạo màu hóa học) được dùng để nhuộm ly cà phê.

Mặt khác, hạt các đậu nành rang và xay ra bột có màu nâu đậm đục, ngã vàng đục, hoàn toàn không giống màu nâu đậm của bột cà phê. Nếu bạn nhìn thấy bột trong 1 bịch chứa có màu nâu đậm ngã vàng, thể tích nhỏ, nhưng cầm nặng tay là tỷ lệ đậu nhiều. Bột có màu đen thui thể tích cũng nhỏ là có trộn nhiều bắp.

5. Mùi của bột cà phê:

Nếu quen thuộc, bạn không khó để nhận ra mùi thơm rất dễ chịu, hấp dẫn và rất đặc trưng của bột cà phê nguyên chất. Nhiều người vẫn bị lầm lẫn và đánh giá cao mùi của hương liệu hóa học được tẩm vào đậu, bắp bởi vì họ ít có dịp ngửi mùi cà phê bột nguyên chất.

Bắp và đậu nành cũng có mùi hơi tanh, theo cảm quan, nếu tinh tế một chút, bạn có thể nhận thấy khi ngửi. Bột đậu nành có mùi gắt, hòa quyện với hương liệu bốc lên một mùi thơm nặng nề chứ không dịu dàng như mùi nguyên thủy của cà phê rang.

II. PHÂN BIỆT ĐANG KHI PHA – TỨC NHẬN BIẾT TRẠNG THÁI CỦA BỘT CÀ PHÊ NGUYÊN CHẤT KHI GẶP NƯỚC SÔI

Đây là điểm mà bạn rất dễ dàng nhận biết để phân biệt chính xác cà phê nguyên chất với cà phê pha tạp hay bột của các loại hạt ngũ cốc khác.

Như đã nhận định, do hạt cà phê được cấu tạo bởi cấu trúc sợi celluose và chứa rất ít tinh bột, nên thuộc tính đặc biệt của bột cà phê rang là rất tơi xốp, và chứa nhiều khoang không khí bên trong do cấu trúc cao phân tử, các sợi cellulose bị bẻ gảy dưới tác động nhiệt trong quá trình rang …Cho nên, khi bạn chế nước sôi 100 độ C vào phin chứa cà phê nguyên chất, lập tức bột cà phê sẽ nở phồng lên, sủi bọt mạnh, thậm chí tràn ra cả ngoài phin.

Nếu sau khi cho vài muỗng bột (khoảng 20-25g) vào 1 phin pha cà phê, bạn chế nước sôi vào mà thấy bột ấy không nở phồng lên, trái lại còn bẹp xuống , lịm xuống và bốc mùi thơm lan tỏa ra nồng nực thì bạn biết chắc chắn trong phin nầy có rất rất ít cà phê. Trái lại, trong loại bột nầy có tỷ lệ phần trăm rất nhiều bột của các loại hạt khác được tẩm hương liệu nhân tạo nồng độ cao.

Bột bắp , bột đậu rang khi gặp nước sôi trở nên dẽo , dính bệt và xẹp xuống do các loại ngũ cốc luôn có chứa nhiều tinh bột. Cà phê không phải là một loại hạt ngũ cốc.

Trái lại cà phê được cấu tạo bởi các hợp chất cao phân tử cellulose, chứa rất ít tinh bột. Quá quá trình rang hạt cà phê nở lớn, bên trong tạo ra các khoang không khí, gặp nước sôi, không khí bên trong nở lớn, làm sủi bọt bột cà phê và khiến bột cà phê trào lên trong phin. Điều nầy rất để nhận thấy.

Cà phê ngon, nguyên chất - bao giờ?

Ở phần lớn các quán cà phê, có thể nói hương vị cà phê ít nhiều đã bị pha tạp và lẫn chất tạo mùi. Cho đến nay, việc thưởng thức ly cà phê ngon nguyên chất vẫn còn khá hiếm, trong khi Việt Nam lại là một đất nước đứng hàng thứ hai thế giới về sản lượng cà phê xuất khẩu.
Ở phần lớn các quán cà phê, có thể nói hương vị cà phê ít nhiều đã bị pha tạp và lẫn chất tạo mùi. Cho đến nay, việc thưởng thức ly cà phê ngon nguyên chất vẫn còn khá hiếm, trong khi Việt Nam lại là một đất nước đứng hàng thứ hai thế giới về sản lượng cà phê xuất khẩu.
 Trong một chuyến đi tìm hiểu việc trồng và chế biến cà phê tại Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng mới đây, tôi có dịp được nghe một số chuyên gia trong ngành đặt ra vấn đề nên xây dựng một quy trình xử lý hạt cà phê, từ khâu canh tác đến chế biến và rang xay, cũng như hướng đến một gu thưởng thức cà phê "sạch".


Từ cây cà phê đã được chọn dòng...

Trong vườn cà phê Robusta của anh Phạm Xuân Trường, một nông dân kinh doanh cây giống nổi tiếng ở thôn 5, xã Đamb’ri, thị xã Bảo Lộc, những trái cà phê to cỡ đầu ngón tay bám đầy cành. “Cùng chi phí sản xuất và cùng phân bón, cây cà phê của tôi đạt năng suất trung bình 500 – 700 trái/kí lô gam nhờ được chọn lọc dòng”, anh nói và cho biết thêm một kí lô trái cà phê tươi loại nhỏ có thể được khoảng 1.000 trái. Khoảng 4,5 kí lô cà phê tươi sẽ cho ra một kí lô cà phê nhân. Vì vậy, chất lượng trái đóng vai trò rất quan trọng.
Cách thức chọn lọc dòng tốt của anh Trường cũng đơn giản: chịu khó đi rảo các vườn cà phê và quan sát tìm ra những cây cho trái to, năng suất cao. Và anh đã “đi rảo” như thế được nhiều năm, với kết quả là đang có 30 héc ta cà phê, trong đó khoảng trên 10 héc ta cho thu hoạch đạt năng suất 6 tấn trái/héc ta. Cà phê trồng tốt nhất là trên mặt bằng, vì ở độ dốc cao thì khó giữ được đất và nhanh chóng bạc màu. Trong vườn cà phê có độ dốc thoai thoải của mình, anh Trường để cho cỏ mọc đầy bên dưới tán những cây đã được 7-8 năm tuổi, thay vì làm sạch cỏ như nhiều nông dân khác.
Từ 5-10 năm nữa, anh Trường hy vọng sẽ có đột biến năng suất cho cà phê Lâm Đồng nhờ địa phương này hiện có khoảng 4.000 hecta cà phê đang sử dụng cây giống từ những cây đã qua chọn lọc dòng như cách anh đề cập nói trên.
... đến quy trình xử lý "sạch"
 Trên đường từ Bảo Lộc đi Lâm Hà, ở đoạn cách Đức Trọng khoảng 20 kí lô mét, có nhà máy cà phê của tập đoàn Thái Hòa. Ông Nguyễn Văn An, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc tập đoàn cho biết nhà máy được đầu tư đến 550 tỉ đồng với công suất chế biến 150.000 tấn cà phê nhân/năm.
Khu vực xử lý cà phê của nhà máy vừa vận hành thử vài ngày, gồm đủ các công đoạn từ rửa, tách, ủ men, làm sạch nhớt, phơi, sấy, tách vỏ, tách màu. Để đạt được cà phê chất lượng sạch như mong muốn, nhà máy ở Lâm Hà, một trong bảy nhà máy chế biến cà phê và là lớn nhất của tập đoàn Thái Hòa, được đầu tư đồng bộ từ hệ thống chế biến ướt, sân phơi có lưới để tránh côn trùng, máy sấy (một máy sấy được 10 tấn/lần, từ 26-40 giờ ở 50oC), cho đến máy tách màu của Nhật xử lý một giờ từ 6-8 tấn cà phê. Kho chứa của nhà máy rộng 15.000 mét vuông được lót tấm cách nhiệt để có thể chứa khoảng 30.000 tấn cà phê nhân đóng bao 60 kí lô gam.
“Ở Brazil, cà phê được nông trại hoặc công ty nông nghiệp xử lý ban đầu trước khi cung cấp cho nhà máy chế biến, trong khi ở đây chúng tôi thực hiện toàn bộ quy trình để cho ra sản phẩm cuối cùng là cà phê nhân”, ông An nhấn mạnh. Xa hơn nữa, Thái Hòa sẽ có nhà máy chế biến cà phê hòa tan ngay trong khuôn viên tại Lâm Hà. Nhà máy đã được động thổ đúng ngày chúng tôi đến thăm (10-10).
Người đàn ông 52 tuổi tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp thú nhận rằng dù sống ở Hà Nội (từ 1987), ông có đến hơn 2/3 thời gian trong năm không có mặt ở thủ đô, vì Thái Hòa đang có tới 12 công ty và đạt doanh số 189 triệu đô la Mỹ năm 2007. Ông dự kiến nhà máy cà phê hòa tan sẽ hoàn tất vào năm 2010 và sẽ đạt sản lượng 2.000 tấn/năm trên dây chuyền thiết bị của Đan Mạch.

Và đến ly cà phê nguyên chất
Trong chuyến du lịch Thái Lan hồi tháng 7 vừa qua, tôi được nghe hướng dẫn viên địa phương bảo rằng sầu riêng mà du khách Việt Nam thường mua dùng và tấm tắc khen chỉ là loại thường, bởi những giống ngon nhất đã xuất khẩu hết rồi. Thực tế này không khác lắm ở Việt Nam, khi sản phẩm ngon nhất được ưu tiên phục vụ cho xuất khẩu để mang ngoại tệ về cho đất nước.
 Nhưng “uống chi thứ cà phê lộn xộn này”, như lời phàn nàn của anh Hùng, hội viên câu lạc bộ quần vợt ở thị xã Bảo Lộc, khi nhìn thấy những ly cà phê đá mang ra sân, là điều không thể chấp nhận được. Cà phê rang xay có thể là loại bể vụn trong quá trình chế biến ban đầu, nhưng ít ra nó phải là cà phê nguyên chất chứ không thể pha với nông sản khác hoặc tẩm bất kỳ hóa chất tạo mùi nào để có giá rẻ và “tạo khác biệt” về gu, thậm chí chưa kể tác hại là gây cảm giác hồi hộp, tim đập mạnh mà nhiều người tiêu dùng không hiểu tại sao.
Vào thời điểm này năm ngoái, một phóng viên đồng nghiệp đã đi gặp một chuyên gia rang xay cà phê đã bỏ nghề ở Bảo Lộc để tìm hiểu công nghệ pha tẩm đủ thứ chất tạo mùi. Kết quả là hầu như các cơ sở rang xay thủ công đều ít nhiều có “bí quyết” pha tẩm của riêng mình. “Tôi có thể ngửi được mùi ngũ cốc như bắp, đậu nành pha vào cà phê, nhưng đôi khi cũng khó phát hiện nếu như nó được tẩm hóa chất tạo mùi”, anh Lưu Văn Hoàng, giám đốc chi nhánh Cafecontrol tại Bảo Lộc cho biết.
Cũng vì lý do này mà anh Lê Anh Tuấn, phó giám đốc Cafecontrol, công ty giám định cà phê và hàng nông sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ gọi cà phê để nếm thử lúc ghé vào các quán ở Bảo Lộc hay Đà Lạt. Nghề chuyên gia thẩm định giúp anh dễ dàng tìm ra giống ngon đặc biệt rồi nhờ rang xay nguyên chất để uống hoặc tặng bạn bè. Tại văn phòng của Cafecontrol ở Bảo Lộc, tôi mới thấy anh uống cà phê “dù có mùi hơi khét do rang xay quá nhiệt độ, nhưng đảm bảo nguyên chất 100%”, theo giải thích của anh Hoàng.

Cà phê sạch, tức cà phê chế biến nguyên chất và rang xay không tẩm một chất tạo mùi nào chứ chưa phải là cà phê sạch theo khái niệm canh tác theo hướng nông nghiệp bền vững, đang là thứ khó tìm ở nhiều quán cà phê. Tổ chức cà phê quốc tế (ICO) thống kê trong tháng 8 vừa qua, Việt Nam xuất 950.000 bao cà phê (60 kg/bao, tương đương 57.000 tấn), chỉ xếp sau Brazil (2.151.842 bao). Trước mắt, nỗ lực có được cà phê ngon nguyên chất ở đất nước xuất khẩu đứng hàng thứ 
hai trên thế giới đến từ phía doanh nghiệp, như chia sẻ của tổng giám đốc tập đoàn Thái Hòa.
 Ngoài ý tưởng kêu gọi thành lập một dạng hiệp hội những nhà chế biến cà phê hướng tới bảo vệ người tiêu dùng vào tháng 12 năm nay nhân Liên hoan cà phê tại Daklak, ông An có kế hoạch khai trương chuỗi quán cà phê Thái Hòa với tiêu chuẩn nguyên chất.

Nhận định về chất lượng cà phê Việt.

Tháng 5/1991, tại Rouen, Pháp. Ông Salaune, người điều phối chương trình hợp tác hải quan giữa hai chính phủ mời tôi và hai đồng nghiệp đi uống cà phê.
Trong lúc tìm hiểu tình hình học tập của chúng tôi ở trường Hải quan quốc gia Pháp, bất chợt ông hỏi: “Các anh thấy cà phê ở đây thế nào? Tôi uống cà phê rất nhiều lần trong ngày, nhưng khi sang Việt Nam, tôi không uống được cà phê của các anh, vì khi uống vào tim đập thình thịch, luôn có cảm giác hồi hộp”. Thời điểm đó, tôi tạm cho rằng khác biệt ở đây là độ đậm đặc: cà phê mà tôi uống tại căng tin và nhà những người bạn Pháp có màu loãng như nước giảo, vị chua nhiều hơn vị đắng, pha bằng máy sử dụng giấy lọc. Buổi điểm tâm có khi được uống cả tô cà phê! Chỉ lúc ra quán mới được nhâm nhi tách cà phê expresso với hương vị đậm đà hơn (và tất nhiên giá cũng đắt hơn, khoảng 12 franc). Những tưởng câu chuyện cà phê “hồi hộp” chỉ là kỷ niệm của những năm đầu 1990, nay có không ít người bạn bảo rằng uống ly cà phê đen ở quán cũng có cảm giác tương tự.

Thử cà phê: tìm sự cân bằng mùi vị

Hạt cà phê nhân không có mùi. Khi rang lên, nó mới tạo nên hương vị đặc trưng, trong đó có cả vị đắng và vị chua với mức độ được gia giảm tùy vào gu của người tiêu dùng.
Tại phòng thử của chi nhánh Cafecontrol ở Bảo Lộc, tôi được mời phân biệt hai sản phẩm: cà phê Arabica thu hoạch lúc trái còn xanh và trái chín. Cà phê nhân được cho vào máy rang chuyên dụng hiệu Probat của Đức, rang bằng điện ở nhiệt độ nhất định (khoảng hơn 200 độ C) với thời gian tùy vào cảm nhận thị giác, vị giác và cả thính giác của người rang.

Sau khi xay, bột cà phê được cho vào các tách nhỏ, châm nước sôi và dùng muỗng (thường là loại muỗng bạc để không làm ảnh hưởng đến chất nước) quậy đều lên. Cách thử cũng đơn giản: ngửi thật mạnh để đánh giá mùi hương, sau đó dùng muỗng đưa nước cà phê vào miệng ngậm vài giây và ục nhẹ để đánh giá vị. Một ly nước lọc để sẵn giúp người thử súc miệng ngay sau đó. Với trái chín, mùi vị cà phê đậm đà hơn và có màu nước cũng đầy đặn hơn trái xanh.
Cùng một loại cà phê được chế biến như nhau, nhiệt độ rang khác nhau sẽ cho ra màu sắc, vị đắng và chua khác nhau để phục vụ sở thích khác nhau của người tiêu dùng, chẳng hạn thích cà phê thật đắng hoặc hơi chua. “Nhưng điều quan trọng là hương vị đặc trưng không thay đổi”, giám đốc chi nhánh Cafecontrol Lưu Văn Hoàng nhấn mạnh. Cũng tương tự rượu vang, cà phê ngon phải tạo được sự cân bằng về hương, vị, độ trơn của nước (dịu mà không gắt). Tài liệu ghi rằng hạt cà phê rang nở thêm 60% thể tích và mất đi 20% trọng lượng.

Rang cà phê là một nghệ thuật

Rang cà phê là cả một tuyệt kỹ công phu, là 1 nghề gia truyền, người chuyên nghiệp không chỉ cho các bạn đâu…vì đó là những bí kíp tuyệt mật giống như cho bạn cần câu thay vì con cá.

Rang cà phê thực sự là một nghệ thuật, công nghệ rang và người kỹ thuật phải lấy được nhiều nhất những đặc tính tự nhiên của các loại cà phê.
Mỗi loại cà phê bản thân nó có một hương vị riêng được hình thành từ các loại giống khác nhau và môi trường đất đai hình thành nên. Kỹ thuật viên rang phải biết nghe hạt cà phê nổ, ngửi được mùi cà phê được hình thành và phải xác định được đúng màu cần thiết khi rang. Nếu cà phê sau rang chưa có màu đậm cần thiết thì khi pha chế sẽ không có được một ly cà phê như ý, nhưng rang quá tay dẫn đến cháy thì bạn sẽ phải hối hận bởi phải thưởng thức một ly cà phê đen thui và đắng ngắt. Do vậy Kỹ thuật viên rang cần phải biết điều chỉnh thời gian rang, nhiệt lượng cung cấp vừa đủ trong quá trình rang cho phù hợp.
Bài viết được thực hiện dưới sự cảm nhận và thực hành thực tế công việc rang xay của một con người đam mê cà phê. Và tất nhiên là nó sẽ có rất nhiều điểm rất khác lạ so với những kỹ thuật của những người rang cà phê chuyên nghiệp và đúng khoa học.
 Sau đây là một phương pháp cơ bản nhất để các bạn có thể rang cà phê theo kinh điển mà chúng tôi muốn chia sẻ:

1. Hạt cà phê
Hạt cà phê Moka lúc chưa rang thường có màu xanh ngọc rất đẹp – Nhiệt độ bình thường, khoảng 22-25 độ C.
Lúc còn sống, gọi là cà phê nhân, bản thân hạt cà phê đã có một mùi thơm đặc trưng. Nhất là hạt cà phê Moka sống có một mùi thơm dễ chịu, tương tự như mùi thảo dược, mùi của thuốc nam, mùi của hoa cỏ khô …

2. Bắt đầu rang đến nhiệt độ trên 100 độ C
Khoảng thời gian đầu của quá trình rang là để truyền nhiệt cho hạt cà phê. Hạt cà phê từ từ nóng lên dần và bắt đầu bốc hơi nước chứa bên trong, hạt cà phê hơi teo lại và hầu như có rất ít sự thay đổi. Trong giai đoạn nầy, bí quyết rang cà phê ngon là tránh cho hạt cà phê chai cứng bằng cách rang thế nào để tạo ra dòng không khí nóng đối lưu tối đa trong trống rang và việc chuyển giao nhiệt diễn ra hiệu quả nhất và lan nhiệt đồng đều đến mỗi hạt cà phê …

3. Giai đoạn hạt cà phê chuyển sang ngã màu vàng nhạt-Nhiệt độ trên 150 độ C
Lúc này, hạt cà phê vẫn tiếp tục hấp thu nhiệt, bốc hơi nước và bắt đầu có sự thay đổi chút ít về thể tích. Trong giai đoạn nầy từ lò rang lan tỏa ra một mùi thơm nồng của cỏ tươi và rơm khô hòa quyện rất đặc trưng. Từ hạt cà phê nóng tỏa ra mùi hương của cây cỏ, của cánh đồng , vườn cây râm mát, làm ta nhớ đến quê nhà xa xôi, và thanh tịnh. Hạt cà phê đang trong giai đoạn thu nhiệt rất nhanh và thay đổi kích thước để chuẩn bị cho giai đoạn nổ đầu tiên

4. Giai đoạn vàng đậm. Nhiệt độ khoảng 180 độ C
Hạt cà phê ngã sang màu vàng đậm, hình dáng bắt đầu thay đổi, thể tích gia tăng từ 20-30%, bề mặt hạt bắt đầu có các gân nổi lên. Lúc nầy mùi hương tỏa ra giống như là mùi của bánh mì cháy, mùi gỗ cháy, mùi của đất mới sau cơn mưa đầu mùa, có cả mùi của củ khoai lang nướng từng làm ta hồi bé có lần thèm thuồng …

5. Giai đoạn chuyển sang màu nâu nhạt-Nhiệt độ khoảng 200 độ C
Chuẩn bị cho giai đoạn phát tiếng nổ đầu tiên của hạt cà phê . Hạt cà phê càng nở lớn nhanh chóng , mùi thơm đã chuyển qua mùi ngọt ngào giống như mùi quả chin, như mùi của mật ong , lại thoang thoảng mùi của mạch nha. Tuy nhiên, lúc nầy các phản ứng hóa học vẫn chưa xảy ra hoàn tất, các phân tử hương vẫn chưa đước giải phóng và cấu trúc sợi của hạt cà phê vẫn rất bền chặc. Nếu lúc này lấy hạt ra xay bột và pha uống thì vị của cà phê lúc nầy khá là chua và mùi cà phê vẫn chưa tinh tế, và có mùi còn ngai ngái, nồng nồng .

6. Giai đoạn chuyển sang màu nâu. Nhiệt độ trên 200 độ C-Nhiệt độ khoảng 210 độ C
Các tiếng nổ bắt đầu vang lên trong thùng quay của lò rang. Các phản ứng hóa học qua tác dụng nhiệt xảy ra bắt đầu đốt cháy các tinh thể đường trong hạt cà phê tạo ra màu nâu caramen, mùi của đường mạch nha càng lúc càng rõ, việc này xảy ra là do một phản ứng hóa nâu thực phẩm dưới tác dụng nhiệt được gọi là phản ứng Maillard. Qua phản ứng Maillard nầy thực phẩm trở nên thơm ngon hơn và bắt đầu biến đổi mầu sắc sậm hơn.

7. Giai đoạn nổ lần thứ nhất – Nhiệt độ khoảng 210 độ C
Tại thời điểm này, các tiếng nổ rộn rã của hạt cả phê đã vang lên nghe rất vui tai trong thùng quay. Người rang cà phê , với sự nhạy cảm, luôn mong chờ nghe tiếng nổ thân thương nầy. Nhiệt độ tăng lên nhanh. Hạt cà phê có nhiều biến đổi về hình thức, phẩm chất lẫn hương vị. Khói bắt đầu tỏa ra nhiều hơn , mùi thơm ngào ngạt tỏa ra, hấp dẫn.
Từ thời điển nầy trở đi, quá trình rang trở nên sinh động, hạt cà phê bắt đầu bước vào giai đoạn chín để cho ra sản phẩm theo ý định của người thợ rang, còn người thợ rang thì vận dụng tất cả các giác quan lẫn tâm hồn say mê của mình để chăm sóc, nâng niu cho mẽ rang như nâng niu 1 công trình nghệ thuật của riêng mình…

8. Giai đoạn ngưng tiếng nổ – Nhiệt độ khoảng 215 độ C
Giai đoạn nổ đầu tiên là một phản ứng tỏa nhiệt. Sau 1 thời gian hấp thu nhiệt thì qua việc nở lớn đột ngột về thể tích, tăng lên đến khoảng 150%, trọng lượng giảm từ 10- 17 % và tạo ra hàng loạt tiếng nổ giòn tan rộn rã, nhiệt lượng bên trong hạt thoát ra nhanh chóng.
Kế đó, ngay lập tức hạt cà phê lại bắt đầu giai đoạn thu nhiệt. Do đó trong quá trình rang, sau lần nổ thứ nhất, sẽ cần có thêm 1 giai đoạn ngắn để hạt cà phê thu thêm nhiệt lượng nhằm tiếp tục được nung nóng và được biến đổi.
Vì thế, trong quá trình rang, tiếng nổ reo vui lần thứ nhất bỗng nhiên giảm xuống rồi ngưng lại. Lúc nầy phản ứng caramen xảy ra nhanh chóng. các phản ứng hóa học làm phát sinh mùi vị thơm ngon của cà phê cũng xảy ra, khói bốc lên khá nhiều. Về hình thức hạt cà phê sau khi nở rộng kích thước thì hơi thu lại và xuất hiện các vết nhăn, nứt phía bên mặt dưới của hạt.

9. Giai đoạn sau khi ngưng tiếng nổ lần một – Nhiệt độ khoảng 220 độ C
Vào lúc này, hạt cà phê bắt đầu thoát ra một lượng khí carbon dioxide nên khói bốc nhiều hơn. không gian lan tỏa mùi bánh nướng, mùi hạt rang đặc trưng…Trọng lượng hạt cà phê tiếp tục giảm xuống.

10. Giai đoạn chuẩn bị nổ lần hai – Nhiệt độ khoảng 225 độ C
Hạt cà phê tiếp tục thu nhiệt và thể tích càng nở lớn hơn, nhất là hạt cà phê Moka, thể tích có thể tăng trên 150% . Các phản ứng hóa học vẫn liên tục xảy ra trong hạt cà phê. Hạt cà phê có nhiều thay đổi và chuẩn bị bước vào giai đoạn nổ lần hai.

11. Giai đoạn bắt đầu nổ lần hai – Nhiệt độ khoảng 225 độ C
Lúc này từ trong hạt cà phê tiết ra nhiều chất dầu, bao phủ cả hạt cà phê, làm cho hạt cà phê trở nên sáng bóng, và nhìn có vẻ ẩm ướt. Mùi thơm càng lúc càng tinh tế, hấp dẫn lan tỏa cả không gian của vùng lò rang, làm ngây ngất những ai ở xung quanh…

12. Giai đoạn nổ lần hai – Nhiệt độ khoảng 235 độ C

Tiếng nổ lần thứ hai phát sinh từ sự là bẻ gãy vật lý của các cấu trúc celllose trong hạt cà phê. Mỗi một chủng loại hạt cà phê của các giống cà phê có các cấu trúc khác nhau, cho nên tiếng nổ lần thứ hai nầy, tùy theo giống cà phê mà chúng ta lắng nghe có có âm thanh, tần suất, cường độ âm, và âm vực khác nhau.

Tiếng nổ lần nầy không rộn rã như lần trước nhưng khô khốc, giòn và xảy ra nhanh chóng như tiếng bẻ gảy của các cành cây khô. Theo phương pháp rang thủ công tại việt nam với truyền thống rang lò than, rang củi… Việc quan sát, lắng nghe, phân biệt, nhận định được âm thanh của tiếng hai lần nổ từ hạt cà phê, mùi hương tỏa ra qua từng giai đoạn rang, màu sắc của khói, của hạt cà phê và cả cảm nhận tinh tế qua kinh nghiệm sẽ quyết định cho chất lượng của mẻ rang.
Hiện nay có nhiều loại máy rang cà phê bán tự động hay hoàn toàn tự động rất hiện đại, rang theo các chương trình được đã lập trình hay theo chương trình tuyển chọn tối ưu của người thợ. Theo một số người qua việc thưởng thức, trãi nghiệm cà phê được rang bằng các máy móc tự động và so sánh với cà phê rang theo cách truyền thống của người thợ, cho rằng, tuy mỗi phương án đều có 1 kết quả tốt nhất định nào đó về phẩm chất của hạt cà phê .
Thế nhưng, họ cảm thấy hạt cà phê rang thủ công ngon hơn rang bằng máy. Khá là thú vị. Có phải chăng vì nó thấm cả hồn đam mê của con người? Tuy nhiên, vì môi trường, vẫn nên chọn cách rang bằng máyvới nhiên liệu ga hay điện. Có lẽ , rồi đây, công việc rang cà phê bằng lò than và củi nầy sẽ chỉ còn là kỷ niệm ngọt ngào với những ai mỗi lần đứng bên lò rang, nhìn từng mẻ cà phê đổ ra mà như nhìn thấy thêm một đứa con của mình ra đời. Thật vậy, đối với người đam mê, rang cà phê như thực hiện 1 tác phẩm nghệ thuật..

13. Giai đoạn sau khi ngưng tiếng nổ lần hai – Nhiệt độ khoảng 240 độ C

Lúc nầy hạt cà phê rang có màu nâu đậm, thể tích tăng tối đa, hạt cà phê nở lớn, nhất là hạt cà phê Moka có thể tăng kích thước gần gấp đôi, và trọng lượng có thể giảm từ 20-30%, hương thơm ngào ngạt theo khói bốc lên, lan tỏa khắp khu vực. Nhất là rang Cà phê Chồn, có thể nói mùi thơm của nó có cả mùi của động vật Cầy Hương.

Theo kinh nghiệm, lúc nầy cà phê rang là ngon nhất, tất cả các phản ứng hóa học tạo nên hương vị thơm ngon trong hạt cà phê đã diễn ra xong. Hạt cà phê đã trãi xong quá trình biến đổi bởi tác động của nhiệt để cho ra một sản phẩm tuyệt vời, phục vụ cho niềm đam mê muôn đời của nhân loại.
Canh thời đểm chính xác và tốt nhất để ngưng quá trình rang tùy theo chất lượng hạt cà phê sống của mỗi mẽ rang là cả bí quyết và kinh nghiệm của người thợ rang.. .Có thể nói vào lúc nầy, mỗi giây phút trôi qua hay mỗi vòng quay của trống (thùng) rang cà phê sẽ tạo ra hương vị và phẩm chất của hạt cà phê khác nhau. Cà phê rang càng đậm màu thì chất cafeine càng giảm, vị chua càng giảm, vị đắng đậm đà và mùi carbon càng tăng….
Cà phê được đổ ra khỏi thùng quay, được làm nguội mau chóng, tránh việc làm bay mất hương thơm quyến rũ và mất vị đậm đà làm đắm say con người. Người thợ Việt sẽ còn biết cách pha chế, phối trộn các loại rượu thơm ngon khác nhau để tẩm vào hạt cà phê còn nóng vào lúc nầy, vì hiểu rằng dưới tác dụng nhiệt, các phân tử rượu sẽ nhanh chóng len lỏi vào cấu trúc phân tử của cà phê tạo thêm 1 phản ứng phụ sau rang, vừa làm giảm nhiệt nhanh chóng, và cung cấp thêm độ ẩm cho hạt cà phê (độ ẩm bảo quản (< 13 %) vì khi rang độ ẩm chỉ còn 0,5 %), vừa tạo ra phản ứng ester hóa có mùi thơm. cho ra sản phẩm độc đáo.
Tuy nhiên phải ướp rượu (đôi khi có bơ hay caramen) làm sao để cà phê thêm phần hấp dẫn, ngất ngây mà không đánh mất hương vị nguyên thủy tuyệt vời của chính hạt cà phê rang là cả một bí quyết tinh tế. Ai ơi, uống cà phê, nhớ hãy uống với cả tâm hồn nhé! Lúc ấy, sẽ bạn có 1 cảm nhận khác hơn về cuộc sống.

Cách cảm nhận về tách cafe
gu uống cafe gu cafe là gì gu cafe  Cảm quan về cafe!

Về căn bản, việc cảm quan cà phê gồm 3 phần: cảm quan hương, cảm quan vị và đánh giá bằng mắt thường. Cảm quan hương cho phép đánh giá thành phần nguyên liệu của cà phê (cà phê Robusta, cà phê Arabica), thành phần chất độn (bắp, đậu) và nhóm hương tẩm nhân đạo. Cảm quan vị và đánh giá bằng mắt thường góp phần khẳng định các nhận định của cảm quan hương.

Năng lực cảm quan phụ thuộc từng người và chỉ có được qua huấn luyện bài bản, tuy nhiên sau đây là một số vấn đề chung khá cơ bản.

- Cà phê độn bắp: Trải một nhúm cà phê bột trong lòng bàn tay, soi ra ánh sáng, nếu thấy có những mẩu xay óng ánh (của mày bắp), thì cà phê có độn bắp. Bắp cũng có mùi hơi tanh, có thể nhận thấy khi ngửi. Do bắp làm giảm nghiêm trọng chất lượng hương của cà phê, nên các cơ sở rang xay thường chỉ độn vào dưới 20% khối lượng để giảm giá thành.

- Cà phê độn đậu nành: Đây là chất độn rất phổ biến, nên có nhiều người nhầm lẫn mùi của nó với hương cà phê. Tuy nhiên, nếu đã thực hành qua cảm quan đậu nành nguyên chất, bạn có thể đánh giá được tỷ lệ độn bằng cách cảm quan nguội.

- Chất lượng caramen: Một loại cà phê được chế biến khéo thì caramen không bị chua, cũng không bị ngọt. Cà phê có vị chua hầu hết đều do caramen được nấu từ mật mía, hoặc nấu quá lửa mà không thanh lọc. Cà phê có vị ngọt thì do nguyên nhân khác: nhà sản xuất không muốn caramen bị chua, nên nấu đường non (khi đường chưa chuyển hóa hết thành caramen).

- Độ sánh của cà phê: Cà phê nguyên chất pha ra thường rất lỏng: độ sánh có được là nhờ caramen và các thành phần độn có chứa tinh bột. Vì thế, nếu bạn có một loại cà phê pha ra lỏng, đừng vội kết luận loại đó “ít cà phê” hay cà phê đó dở. Điều quan trọng nhất là bạn chọn được cà phê có độ sánh phù hợp mà khách hàng của bạn thích.

- Độ đắng của cà phê: Cà phê thường được tăng đắng bằng các chất tăng đắng nhân tạo. Trên thị trường có xu hướng thích loại cà phê rất đắng, tuy nhiên bạn nên tránh xu hướng đó: khách hàng của bạn khi uống loại cà phê này thường mất cảm giác ngon miệng khi ăn cơm.

Các nhóm hương trong một ly cà phê:

Trong một ly cà phê, về cơ bản có 2 nhóm hương chính: hương tự nhiên của nguyên liệu và hương do nhà chế biến tẩm vào (hương liệu nhân tạo).

- Hương cà phê tự nhiên: Cà phê tự nhiên chỉ có hai loại là Arabica và Robusta. Hương của mỗi loại phụ thuộc thổ nhưỡng của vùng đất trồng, nhưng khá chung và để nhận biết. Về nồng độ, thì Robusta thường ít mùi, trong khi hương Arabica rất mạnh và có khả năng bù hương cao.

- Các nhóm hương tẩm: Hương tẩm vào cà phê thường được chia làm 3 nhóm: hương cà phê (giống với mùi hương Robusta hay Arabica tự nhiên), hương gần cà phê (gần giống với hương tự nhiên) và hương ngọt (có gốc cacao – chocolate).

Do hương tẩm và hương tự nhiên có nguồn gốc khác nhau, nên tính bay mùi cũng khác nhau trong các giai đoạn nóng, nguội, khuấy (hay ra đá) như biểu đồ bên cạnh.

Căn cứ vào biểu đồ này, người ta thường cảm quan nguội để phân tích thành phần gốc như cà phê, và cảm quan khuấy để đánh giá cách nhà chế biến phối hợp hương tẩm với hương nguyên liệu.

Quy tắc chung khi trộn cà phê:
gu uống cafe gu cafe là gì gu cafe  Cảm quan về cafe!

Khi tạo lập công thức pha trộn, bạn cần nhớ quy tắc tổng quát là “CHÍNH PHỤ”. Nghĩa là, bạn phải chọn một loại cà phê chính có hương thơm rõ cà phê làm trụ cột vững vàng cho cấu trúc hương, rồi sau đó mới lựa chọn một hoặc hai loại cà phê khác thêm vào để làm da, làm thịt cho cấu trúc hương đã có.

Quy tắc này cũng áp dụng cho việc quyết định tỷ lệ trộn. Mặc dù tỷ lệ này phụ thuộc vào nồng độ hương của các thành phần, tuy nhiên, để đảm bảo hương chính không bị lấn át, bạn nên giữ cho thành phần chính một tỷ lệ trộn cao hơn. Ví dụ, nếu bạn trộn 2 loại cà phê, thì nên chọn tỷ lệ an toàn là CHÍNH : PHỤ là 6:4. Còn nếu bạn trộn 3 loại, thì nên giữ loại cà phê chính là 5 phần, còn 2 loại kia chiếm 5 phần còn lại.

Lựa chọn cà phê chính và phụ:

Cà phê chính là phải là loại có hương thơm rõ cà phê, và theo truyền thống, nên thơm rõ hương Arabica. Một lưu ý khác về thành phần cà phê chính phải có ít chất độn, vì mùi chất độn làm giảm chất lượng cảm quan của ly cà phê.

Có nhiều loại cà phê có hương chính là Arabica trên thị trường, nhưng mỗi loại thường có hương tẩm đặc trưng riêng. Do hương tẩm đặc trưng này, nên nếu bạn chọn nhiều loại làm cà phê chính cho mình, thì các hương tẩm này có khả năng tranh chấp với nhau, làm hỏng cấu trúc hương chính của bạn.

Cà phê phụ (cà phê nến) phải có hương chủ đạo là hương tẩm thuộc 1 trong các nhóm hương sau:

- Nhóm hương gần cà phê: Rất tốt để bổ sung cho hương chính rõ mùi cà phê.

- Nhóm hương ngọt: có gốc cacao hay sô cô la, để làm cho ly cà phê của bạn có hương vị ngọt ngào hơn.

- Hương rõ Robusta: phối hợp rất tốt với hương chính rõ mùi Arabica.

Ngoài đặc tính hương như trên, để có một công thức tối ưu hóa về giá thành, thì loại cà phê nền phải có giá thấp hơn, và có độ đắng và độ sánh cao hơn. Như thế, bạn sẽ bảo đảm 1 kg cà phê pha ra được nhiều ly hơn.

Nếu bạn chọn 3 loại cà phê cho công thức của bạn, thì bạn nên xác định vai trò của mỗi loại trong công thức như sau:

- Một loại làm cà phê chính, nên rõ mùi hương Arabica.

- Loại cà phê nền thứ nhất có hương rõ Robusta.

- Loại cà phê nền thứ hai nên có gốc hương ngọt, hoặc hương gần cà phê.

Xác định tỷ lệ pha trộn:

Để xác định tỷ lệ pha trộn của hai loại, bạn nên pha hai ly cà phê gốc bảo đảm đúng liều lượng, sau đó dùng muỗng nhỏ để trộn cà phê nước như sau:

- Đong 10 muỗng cà phê chính vào một ly khác, sau đó từ từ thêm cà phê nền vào ly từng nửa muỗng một. Sau mỗi lần thêm, lại khuấy và cảm quan kết quả. Khi nhận thấy hương cà phê nền bắt đầu ảnh hưởng đến hương cà phê chính thì dừng lại và ghi nhận tỷ lệ trộn.

- Lặp lại từng bước như trên với một ly khác. Lần này bạn thêm cà phê nền vào cho đến khi nhận thấy hương của cà phê nền bắt đầu lấn át cà phê chính thì dừng lại và ghi nhận tỷ lệ trộn.

- Bạn có thể chọn một tỷ lệ trong khoảng nằm giữa hai tỷ lệ pha trộn trên đây. Việc lựa chọn chỉ dựa vào phép tính giá thành và sở thích cá nhân của bạn.

Nếu bạn trộn 3 loại cà phê, thì bạn nên tiến hành trộn 2 loại trước. Sau đó, dùng loại cà phê đã trộn được làm thành phần chính, loại thứ 3 làm phụ rồi tiến hành xác định tỷ lệ trộn theo quy tắc trên đây. Bạn nên dùng loại cà phê chính làm gốc cảm quan, để so sánh sao cho hương chính không bị lấn át trong khi pha trộn.


Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Taking Vietnam’s Economy to the Next Level


Cải Tiến Năng Suất: Một Lối Thoát Cho Kinh Tế Việt Nam
Mai Vân & Nguyễn Xuân Nghĩa - RFI Ngày 20120228
TẠP CHÍ KINH TẾ RFI

Vàng son là quá khứ, tương lai là cải tiến năng suất, nếu không thì sẽ mất 30% sản lượng....

“Đưa kinh tế Việt Nam lên tầng cao hơn” (Taking Vietnam’s Economy to the Next Level), đó là tựa đề bản nghiên cứu vừa được Viện Nghiên cứu Toàn cầu Mckinsey (McKinsey Global Institute) công bố vào tháng 2/2012. Nguyên là một hãng tư vấn về quản trị thuộc hàng đầu thế giới, McKinsey đã khen ngợi thành tích của kinh tế Việt Nam cho đến năm 2010, trước khi cảnh báo rằng Việt Nam cần phải nỗ lực cải tiến năng suất lao động nếu muốn duy trì thành quả tăng trưởng đã qua.

Mở đầu bản báo cáo, McKinsey đã hết sức ca ngợi thành tích mà Việt Nam đã đạt được trong một phần tư thế kỷ vừa qua: “Việt Nam đã vươn lên thành một trong những tấm gương thành đạt sáng nhất châu Á. Trên một đất nước từng bị chiến tranh tàn phá, kinh tế đã tăng trưởng bình quân 5,3% một năm kể từ năm 1986, nhanh hơn bất kỳ một nền kinh tế châu Á nào khác, ngoại trừ Trung Quốc”.

Giải thích về các nhân tố đã giúp Việt Nam thành công, McKinsey nêu bật hai loạt điều kiện thuận lợi, bên trong và bên ngoài. Về các yếu tố nội tại, McKinsey cho rằng: “Việt Nam đã thừa hưởng được kết quả của một chương trình tái cấu trúc nội bộ, một quá trình chuyển đổi từ nền tảng nông nghiệp qua công nghiệp và dịch vụ, và một lợi thế dân số bắt nguồn từ một lực lượng lao động trẻ”.

Về nhân tố bên ngoài, McKinsey cho rằng Việt Nam cũng đã giàu lên từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007, bình thường hóa quan hệ mậu dịch với Mỹ, và bảo đảm sao cho nền kinh tế thường xuyên là nơi thu hút giới đầu tư nước ngoài thuộc hạng mạnh mẽ nhất châu Á.

Theo Viện Kinh tế Toàn cầu McKinsey, có ba động lực đã thúc đẩy sức tăng trưởng của Việt Nam được ước lượng khoảng 7% một năm kể từ 2005 đến 2010. Đó là đà gia tăng dân số lao động, sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp qua các khu vực sản xuất khác và thứ ba là sự cải tiến năng suất trong các khu vực kinh tế.

Tuy nhiên, theo bản nghiên cứu, hai động lực đầu tiên ngày càng yếu đi, không còn đủ sức thúc đẩy tăng trưởng trong tương lai. Số liệu thống kê chính thức của Việt Nam đã chỉ ra rằng tăng trưởng của lực lượng lao động trong nước sẽ chỉ còn khoảng 0,6% mỗi năm trong một thập niên tới đây, so với mức tăng bình quân 2,8% từ năm 2000 đến 2010.

Tương tự như vậy, căn cứ vào tốc độ chuyển dịch lao động nhanh chóng trong thập kỷ qua từ khu vực nông nghiệp qua các khu vực khác, rất ít có khả năng tốc độ này gia tăng hơn nữa để nâng cao đủ năng suất nhằm bù đắp cho đà tăng trưởng chậm lại của lực lượng lao động.

Trong tình hình không còn hai lợi thế kể trên, theo McKinsey, Việt Nam phải cải tiến năng suất thì mới có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng đã qua, và khỏi bị thất thu gần một phần ba sản lượng vào năm 2020. Tức là khỏi mất 46 tỷ đô la....

Đó chính là ý nghĩa của lời khuyến cáo chính được Viện Nghiên cứu Toàn cầu McKinsey ghi ngay trên trang bìa phần tóm lược bản báo cáo vừa công bố: “Để tiếp tục chiều hướng tăng trưởng GDP mạnh mẽ, Việt Nam cần nỗ lực nâng cao năng suất lao động của mình”. 

Từ Hoa Kỳ, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa đã phân tích thêm về những khuyến cáo của McKinsey.

RFI: Xin kính chào anh Nghĩa. Chắc rằng anh đã có dịp đọc bản phúc trình này của McKinsey. Anh nghĩ sao về những khuyến cáo cho Việt Nam của công ty tư vấn kinh doanh nổi tiếng này?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Bản phúc trình dày sáu chục trang của McKinsey & Company đã được tóm lược trong tờ quý san mới nhất của công ty là McKinsey Quarterly. Tôi thiển nghĩ rằng tài liệu này đáng được một giải thưởng về tài ngoại giao khi trình bày một thực đơn đầy vị chua ngọt. Rất ngọt ngào về quá khứ đang tàn phai và khá chua chát về tương lai trước mặt ! 

RFI: Anh có cái cách mở đầu khá vui về một đề tài nhức đầu là kinh tế! Xin anh giải thích cho thính giả về khía cạnh anh gọi là chua ngọt đó. 

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa, McKinsey là doanh nghiệp thuộc hạng nhất thế giới về tư vấn kinh doanh với hơn chín ngàn nhân viên hoạt động tại gần 100 văn phòng ở 55 quốc gia. Đa số khách hàng là các xí nghiệp, nhưng nội dung bản báo cáo rõ ràng là trình bày cho nhà cầm quyền Việt Nam bốn yêu cầu cải tiến về chính sách. Nôm na là những khuyến cáo dành cho chính phủ để có được tăng trưởng bền vững, nên tôi nghĩ là họ phải bọc đường mấy viên thuốc đắng cho dễ nuốt. 

- Vì vậy, phần đầu ngợi ca những thành tựu kinh tế của quá khứ như khi ta nhìn qua "tấm kính chiếu hậu" – là chữ của bản báo cáo. Qua phần hai, là khi lớp đường ngọt đã tan, thì bản báo cáo vạch ra những thách đố trước mặt như bối cảnh bất trắc của toàn cầu và sức ép của kinh tế vĩ mô bên trong, với nội dung phê phán chính sách mà ta có thể ngầm hiểu ra. 

- Nhưng từ một doanh nghiệp kiếm ra tiền nhờ giúp thiên hạ giải quyết vấn đề, bản phúc trình đề nghị bốn lịch trình cải cách về chính sách quản lý kinh tế, và đây là phần trọng yếu và dày nhất của bản nghiên cứu. Sau cùng mới là phần cảnh báo khách hàng của mình là các doanh nghiệp đã hoặc sẽ làm ăn tại Việt Nam, từ xí nghiệp quốc doanh và tư doanh Việt Nam đến các công ty đa quốc của nước ngoài. Một chi tiết kỹ thuật cũng đáng chú ý là họ rất lịch sự sử dụng thống kê của Việt Nam như những dữ kiện đáng tin, dù rằng trong nghề tư vấn về quản trị thì việc kiểm tra lại sự xác thực của kế toán vẫn là bước sơ đẳng. 

RFI: Anh tóm lược nội dung như vậy thì ai cũng tò mò muốn hiểu về phần hai là những thách đố trước mặt của Việt Nam. Thưa anh, báo cáo của McKinsey nhận định thế nào ?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Yếu tố đầy bất trắc và chưa hồi phục của kinh tế toàn cầu là một thực tế khách quan. Vì suy trầm kinh tế thế giới dẫn đến giảm sút ngoại thương và đầu tư quốc tế từ đầu năm 2009 nên chính quyền Việt Nam đã ban hành chính sách vĩ mô để giữ đà tăng trưởng, rồi lãnh hậu quả bất lợi, như bội chi ngân sách, khiếm hụt mậu dịch, áp lực vật giá và biến động ngoại hối. Ngày nay, hệ thống tài chính và ngân hàng Việt Nam đã có dấu hiệu bấp bênh. Được yểm sâu trong bản báo cáo là những phê phán về vai trò tiêu cực của các doanh nghiệp nhà nước, nhưng họ khéo trình bày thành những cân nhắc khách quan về năng suất đầu tư! Thế rồi, nhìn vào tương lai dài hạn hơn, bản báo cáo nói đến sự "hụt hơi", cũng là chữ của họ, vì các động lực tăng trưởng cố hữu đã và sẽ còn giảm sút. 

- Qua những năm tới, nếu Việt Nam muốn đạt chỉ tiêu tăng trưởng là 7% một năm như mấy năm trước, thậm chí 7-8% từ nay cho đến năm 2020 như Đại hội 11 đề ra từ đầu năm ngoái, thì chính quyền phải nâng năng suất lao động thêm 50%. Trong giả thuyết Việt Nam cứ duy trì hiện trạng, thì kinh tế chỉ đạt mức tăng trưởng từ 4,5 đến 5%. So với tốc độ trung bình của các nước Đông Nam Á trong 30 năm qua thì đấy cũng là đáng nể, nhưng vẫn dưới chỉ tiêu. Thật ra, nếu không cải tiến năng suất thì tốc độ ấy có nghĩa là kinh tế bị hụt 30% sản lượng, cụ thể là thất thâu 46 tỷ đô la và sức tiêu thụ của tư nhân bị hụt mất 31 tỷ. Đấy mới là một lời cảnh báo khá nghiêm trọng.

RFI: Sau khi cảnh báo Việt Nam có tương lai không sáng sủa bằng quá khứ, bản phúc trình này khuyến cáo những gì về việc nâng sao năng suất? Mà thưa anh, vì sao nội dung tài liệu lại tập trung vào chuyện năng suất vậy? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ai cũng có thể hiểu rằng sản lượng kinh tế chỉ tăng khi thêm người sản suất, đó là động lực về dân số, hay lực lượng lao động được dành cho sản xuất. Rồi sản lượng có thể tăng nếu mỗi người lao động lại đạt hiệu năng cao hơn, nôm na là cùng một sức lao động lại sản xuất ra nhiều của cải hơn, người ta gọi đó là năng suất. Tức là sau dân số thì còn có dân trí. 

- Theo báo cáo của McKinsey thì trong quá khứ, cái gọi là phép lạ kinh tế của Việt Nam chủ yếu xuất phát từ ba yếu tố được họ kiểm tra trong giai đoạn từ 2005 đến 2010. Thứ nhất là đà gia tăng dân số với lớp người trẻ đã tham gia trị trường lao động. Yếu tố đó đóng góp 36%, là hơn một phần ba, vào đà tăng trưởng 7% của năm năm qua. Thứ hai là sự chuyển dịch dân số từ khu vực nông nghiệp qua các khu vực sản xuất khác, như chế biến hay dịch vụ. Yếu tố đó đóng góp 30% vào đà tăng trưởng 7%, khi nhân lực trong canh nông được giải phóng. Thứ ba là năng suất chung của các khu vực có được cải tiến nên góp thêm 34% vào đà tăng trưởng. Yếu tố này là kết quả của cải cách kinh tế và của việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế rồi giao lưu với thế giới bên ngoài và tiếp nhận đầu tư của quốc tế. 

- Nhưng nếu nhìn trong trường kỳ thì ba động lực ấy không bền vững và không thể tiếp tục đẩy kinh tế đi lên với tốc độ 7%. Thứ nhất là sự chuyển dịch chậm rãi của dân số khiến lực lượng lao động sẽ giảm dần, và thành phần trẻ trung sung mãn cũng sẽ ít đi như tại nhiều xứ khác. Thay vì tăng 2,8% như từ 10 năm qua, vào thập niên tới, dân số Việt Nam chỉ tăng có 0,6% một năm mà thôi. 

- Khi số lao động giảm, chi phí lao động tăng và doanh nghiệp bắt đầu khó tuyển được người làm ở Việt Nam. Trong khung cảnh đó, dân số từ nông nghiệp cũng giảm và sự chuyển dịch từ quê lên tỉnh để sản xuất trong các khu vực khác cũng vậy. Cho nên chỉ còn một giải pháp nâng cao sản xuất là cải tiến năng suất lao động, như hầu hết các xứ khác đều phải làm. Cụ thể thì Việt Nam hết còn trông cậy vào lợi thế người đông, lương rẻ mà bắt đầu phải tính kiểu khác ! 

RFI: Và báo cáo của McKinsey mới khuyến cáo thế nào về các giải pháp nâng cao năng suất?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tích lũy hơn 20 năm kinh nghiệm về cải tiến năng suất trong 30 khu vực kinh tế và tại hơn hai chục quốc gia, McKinsey đề ra cho Việt Nam bốn ưu tiên cải cách về chính sách.

- Thứ nhất là sửa sai để bảo đảm ổn định vĩ mô, với sự nhấn mạnh về việc sửa mà lịch sự bỏ qua nhiều chuyện sai.

- Thứ hai là tăng cường các thành tố của năng suất, là giáo dục và hạ tầng cơ sở, với sự nhấn mạnh về hiệu năng và minh bạch trong giáo dục và đào tạo và về hạ tầng cơ sở cho kỹ nghệ du lịch, là điều mà bản thân tôi cho là khá độc đáo !

- Thứ ba là định lại nghị trình kinh tế theo hai hướng là phải có phối hợp và tập trung vào một số ngành công nghiệp. 

- Thứ tư là phải tiếp tục cải cách vai trò và khả năng của chính phủ để có thể áp dụng một chính sách tinh tế hơn. Đây là phần đắng nhất của liều thuốc bọc đường, nhưng lại khéo đưa ra qua thí dụ của các xứ khác để khỏi làm con bệnh phật ý !

RFI: Tổng kết lại thì anh đánh giá thế nào về những khuyến cáo của bản phúc trình này? 

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Dù tránh đề cập đến nhiều khía cạnh ngoài kinh tế, khuyến cáo của McKinsey vẫn là một kho kiến thức chuyên môn khá hữu ích cho những người có thiện chí. 

- Theo nghệ thuật kinh doanh thì McKinsey phải khéo khuyên giải những ai có thể là khách hàng tiềm thế sau này, kể cả doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam. Nhưng thông điệp ẩn chứa bên trong thì rõ là họ nói thẳng với nhà cầm quyền rằng thời vàng son đã hết rồi! 

- Sau cùng, phúc trình cũng cảnh báo các doanh nghiệp nước ngoài là đừng tưởng bở mà phải lượng định cho sát những rủi ro khi đầu tư tại Việt Nam khi muốn tránh rủi ro của thị trường Trung Quốc. Cụ thể là phải theo dõi kỹ để linh động ứng phó, cải tiến và thậm chí tác động vào tiến trình cải cách của nhà nước. 

RFI: Xin cám ơn anh Nguyễn Xuân Nghĩa từ Hoa Kỳ.

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012

Nhìn về Trung Quốc



Lời nói đầu:
Từ khi ông Đặng Tiểu Bình đảo ngược chủ thuyết kinh tế Cộng sản để mời gọi tư bản vào đầu tư năm 1989, nước Trung Hoa đã phát triển và trở thành nền kinh tế có tổng sản lượng quốc gia (GDP) đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ. Nhưng dù thất bại nặng nề trong việc áp dụng 40 năm chủ nghĩa Cộng sản tại Trung Hoa (1949 – 1979), Đảng Cộng sản còn ngự trị với bao nhiêu quyền hành, đặc quyền, đặc lợi. Chủ quyền quốc gia và quyền sống của người dân vẫn do Đảng Cộng sản nắm chặt không khác gì dưới thời Mao Trạch Đông. Người dân không thể hiện được quyền làn chủ đất nước và làm chủ cuộc sống của mình, có nghĩa vẫn bị đàn áp, vẫn bị nghèo khổ vì nông dân thì bị cướp đoạt ruộng đất, công nhân thì bị bóc lột công sức, cùng với nạn tham ô, cường hào ác bá trải rộng khắp nước từ Trung ương tới địa phương.
Đã có những đòi hỏi hay kiến nghị cải cách chế độ nhưng đều bị đàn áp, bác bỏ. Cách nay hơn một năm, Trung tướng Lưu Á Châu, giáo sư Viện Đại học Quân sự, con rể cựu Thủ Tướng Lý Tiên Niệm đã cảnh cáo nếu chế độ không được thay đổi thì chỉ trong vòng 10 năm nữa sẽ sụp đổ.
Có thể ông đã tiên đoán sai về thời gian, vì những tháng gần đây giai cấp công, nông nổi lên liên tiếp, không phải chỉ vài chục, vài trăm người mà hàng chục ngàn người ở cảng Đại Liên ngày 14-8-2011; không phải chỉ đòi hỏi quyền lợi hay khiếu nại mà còn giương cao biểu ngữ đòi “Giết chết bọn quan chức tham ô”, “Đả đảo chế độ độc tài”, “Nợ máu phải trả bằng máu” (Huyết trái, huyết hoàn), lật đổ chính quyền cũ, lập chính quyền mới ở xã Ô Khảm, tỉnh Quảng Đông mới đây. Những tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản như Nhật báo Nhân Dân, Thời báo Hoàn Cầu (Global Times) không còn có thể im tiếng nữa mà thảng thốt la lên: “Tín nhiệm dành cho giới lãnh đạo Đảng bị lật nhào” (Global Times 25-9-2011), “Dân chúng càng ngày càng bất mãn với chính phủ” (Nhật báo Nhân Dân 03-11-2011). Nhiều học giả và các giáo sư Đại học chuyên nghiên cứu về Trung Quốc tiên đoán có thể nước này sẽ gặp đại loạn trong thời gian sắp tới.
Để có một cái nhìn tổng quát hơn về những diễn biến có thể sẽ xẩy ra, chúng ta cùng lướt qua về bối cảnh xa xưa của đất nước có 1.300 triệu dân với nền văn hóa lâu đời này, tiếp đến là nói về Mao Trạch Đông và nội tình Trung Quốc hiện nay.

 I – Trung Quốc ngày xưa: Khổng Tử

Dân tộc Trung Hoa khởi đầu sinh sống ở phía Tây Bắc Hoàng Hà rồi dần bành trướng về phía Đông xuống phần hạ lưu và phía Nam con sông này. Đầu óc phong kiến đã sớm phát triển rất mạnh trong con người Trung Hoa. Vì thế mà nạn tranh giành quyền lực liên tục xẩy ra làm cho người dân vô cùng lầm than vì bị các lãnh chúa đè nén, bóc lột qua sưu cao, thuế nặng và nhân lực để phục vụ chiến tranh do họ gây ra. Đất nước Trung Hoa có những giai đoạn suy tàn vì chiến tranh nên bị các nước nhỏ xung quanh như Kim, Mông, Mãn… xâm chiếm và đô hộ. Vào đầu đời nhà Chu – Tây Chu (1.135-770 trước Tây lịch), chư hầu có tới 3.000 nước. Những đám phong kiến này luôn tranh chiếm tiêu diệt lẫn nhau và vào thời Đông Chu còn khoảng vài trăm nước. Thời Chiến quốc còn lại thất hùng gồm Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Tần, Sở, Yên. Nước nào cũng nhân danh nhà Chu (như thời Trịnh, Nguyễn của Việt Nam nhân danh nhà Lê) để gây chiến với nước khác. Cuối cùng thì Tần, với Tần Thủy Hoàng, toàn thắng vào năm 221 (trước Tây lịch) lập ra nhà Tần. Đây là lần đầu tiên Trung Hoa được thống nhất sau hàng ngàn năm chinh chiến, nhưng nhà Tần chỉ kéo dài được 15 năm. Hạng Võ diệt được Tần thì lại có cuộc tranh hùng với Lưu Bang. Lưu Bang thắng Hạng Võ lập ra nhà Hán tương đối ổn định được hơn 300 năm thì xảy ra loạn Hoàng Cân, tức giặc Khăn Vàng, đưa nước Tàu đến loạn Tam quốc (Ngụy, Thục, Ngô) với ba nhân vật nổi tiếng là Tào Tháo, Khổng Minh, Ngô Quyền quyết sống chết với nhau hơn 40 mươi năm trời. Tư Mã Ý từ Ngụy diệt được Thục, Ngô lập ra nhà Tấn (năm 265 sau Tây lịch) cũng chỉ ổn định được hơn 50 năm lại xảy ra loạn Ngũ Hồ gồm 16 nước chiến tranh liên miên và với những cuộc thay bậc đổi ngôi trong khoảng 300 năm cho đến năm 618 (sau Tây lịch) Lý Uyên chiến ngôi nhà Tùy lập ra nhà Đường….
Đầu óc phong kiến, đã có từ mấy ngàn năm, ăn sâu vào xương tủy người Trung Hoa nên luôn luôn xảy ra chiến tranh giữa những lãnh chúa khi họ nắm quyền trong tay. Thời cận đại và hiện nay, dù thế giới đã tiến tới thời đại dân chủ, đầu óc phong kiến của người Trung Hoa hình như lại càng tăng chứ không giản. Mao Trạch Đông và chế độ cộng sản sẽ được nói đến sau. Cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 mệnh danh là cách mạng dân chủ lập ra Trung Hoa Dân Quốc và tôn Tôn Dật Tiên lên hàng quốc phụ, thực chất chỉ là lập ra một chế độ phong kiến mới. Quốc Dân Đảng chưa làm chủ hoàn toàn đã chia làm hai: phe Vũ Hán ủng hộ Lê Nguyên Hồng; phe Nam Kinh, Thượng Hải ủng hộ Tôn Dật Tiên; chưa hết, tiếp theo là cuộc tranh quyền giữa Quốc Dân Đảng và Viên Thế Khải, một người có mộng lên ngôi hoàng đế Trung Hoa!
Đầu óc phong kiến của Tôn Dật Tiên cũng không kém! Khi làm Tổng thống lâm thời ông đã bổ quá nhiều người tỉnh Quảng Đông vào chính phủ. Gia đình bên vợ ông lũng đoạn nền kinh tế quốc gia, sáu người con trong gia đình Tống Giáo Nhân người nào cũng là triệu phú Mỹ kim thời ấy (bây giờ là tỷ phú). Tiêu biểu là Tống Tử Văn từng là Tổng thủ quỹ Hỏa Xa, Bộ trưởng Tài chánh, Bộ trưởng Ngoại giao…; Tưởng Giới Thạch, em rể, người kế vị ông là một người có đời sống xa hoa. Khi Tưởng Giới Thạch của Quốc Dân Đảng bị Mao đánh bại phải chạy qua Đài Loan năm 1949 thì đầu óc phong kiến của Tưởng nổi bật không thế chối cãi: Tưởng Giới Thạch làm Tổng thống suốt đời trên đảo quốc này và trước khi nhắm mắt truyền ngôi cho con trai là Tưởng Kinh Quốc. Chỉ sau khi Tưởng Kinh Quốc chết, Đài Loan mới mang màu sắc dân chủ, chứ chưa thực sự là dân chủ, vì cứ Tổng thống sau tìm cách bỏ tù Tổng thống trước. Năm 2009, cựu Tổng thống Trần Thủy Biển bị kết án 17 năm tù vì tham nhũng, rửa tiền và gian lận; ngày 30-6-2011 đến lượt cựu Tổng thống Lý Đăng Huy bị truy tố và kết án tù vì biển thủ hơn 5 tỷ euro (hơn 7 tỷ USD). Ông trước ông sau, dù ai phải ai trái, cũng biểu lộ đầu óc phong kiến hoặc là coi quốc gia thuộc quyền sở hữu của mình nên tha hồ vơ vét, hoặc là một hình thức thanh toán nhau để tranh giành quyền lực!
Nhìn xa hơn sang hòn đảo nhỏ bé xa xôi Singapore, nơi đây so với Đại Lục chẳng đáng gì về dân số, chỉ có một nhúm người Trung Hoa sinh sống (khoảng 3,5 triệu năm 2007) và bị Anh đô hộ 150 năm. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính, tất nhiên phải chịu ảnh hưởng văn hóa Tây phương, nhất là giới có học thức, nhưng đầu óc phong kiến vẫn tồn tại trong tiềm thức của họ, chờ có dịp là trỗi dậy.
Singapore độc lập năm 1965, lãnh tụ là Lý Quang Diệu tốt nghiệp Đại học Cambridge tại nước Anh lên làm Thủ Tướng từ đó đến 1990 (25 năm). Trong thời gian này, những lãnh tụ đối lập bị Lý dùng tòa án đàn áp đến thân tàn ma dại: bản thân đi tù, toàn bộ tài sản bị tịch thu để bồi thường danh dự cho ông ta vì tội công kích Lý khi tranh cử hoặc có những lời tố cáo chế độ. Hoa Lục hiện áp dụng triệt để phương sách này đối với nghệ sĩ Ngải Vị Vị và những người hoạt động đấu tranh cho dân chủ. Năm 1990 Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) lên thay, làm chỗ đệm cho dòng họ Lý. Năm 2004 “Thái tử” Lý Hiển Long chính thức lên ngôi nối nghiệp cha cho đến nay là 8 năm. Lý Quang Diệu chỉ rời khỏi nội các của chính quyền Singapore ngày 14-5-201 sau khi cuộc Cách Mạng Hoa Lài hay Mùa Xuân Ả Rập đã lật đổ hai nhà độc tài lâu năm ở Tunisia và Ai Cập và những chế độ độc tài khác ở Lybia, Syria, Yemen… đang lung lay. Trên thực tế, Lý Quang Diệu cai trị Singapore 46 năm (1965-2011), hết làm Thủ tướng thì làm Bộ trưởng Cao cấp trong nội các. Có thể nói chế độ Lý Quang Diệu là chế độ gia đình trị vì ông ta, vợ ông ta, 3 người em trai, 2 người con trai, 1 con gái đều nắm những chức vụ quan trọng trong chính quyền hay làm chủ những đại công ty ở Singapore! Như vậy dù đi đến đâu, đầu óc thống trị, phong kiến của người Trung Hoa cũng không thay đổi.
Những nhà Nho, với sự tán đồng của các vua chúa đã tôn Khổng Tử là đấng “Vạn thế sư biểu” (ông thầy vạn đời) vì có lợi cho cả hai: một đằng là con đường tiến thân đem lại quyền hành, danh lợi; một đằng dùng chủ thuyết của Khổng Tử mê hoặc dân chúng để thống trị muôn đời! Thực ra thuyết tôn quân có trước Khổng Tử hàng ngàn năm, từ thời Tây Chu đặc biệt với Chu Công Đán (Chu Công) là con thứ của Chu Văn Vương đã đúc kết kinh nghiệm trị nước các triều đại trước thành một học thuyết chính trị rất có lợi cho vua chúa (Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, trang 476). Khổng Tử chỉ là người san định, giải thích, bổ khuyết và sắp xếp thành hệ thống chặt chẽ thôi.
Bất cứ học thuyết chính trị hay chế độ độc tài nào, người ta cũng đều đề cao nhân nghĩa, đạo đức để che đậy những điều khắc nghiệt, tàn ác ẩn giấu bên trong. Thuyết Đại Đông Á của Nhật đề cao sự hùng mạnh, thịnh vượng cho các nước vùng Đông Nam Á để lối kéo những dân tộc Đông, Nam châu Á đang bị thực dân phương Tây đô hộ hồi đầu thế kỷ 20; thuyết dân tộc chủ nghĩa của Hitler đề cao huyết tộc Đức…. Khổng Tử đề cao cái Đức lớn của vua chúa, lấy Đức trị dân, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín mà hành xử trong thiên hạ tạo nên “tứ hải giai huynh đệ”, nghĩa là muôn dân trên thế giới nhờ cái đức lớn của thiên tử trở thành anh em “bốn bể một nhà” thân ái!
Cạo bỏ lớp sơn hào nhoáng bên ngoài đó,trên thực tế con người dưới học thuyết Khổng Tử – trừ vua chúa và quan lại – đều là tôi mọi và nô lệ vì ông vua là con trời (Thiên tử) có toàn quyền cai trị muôn dân. Vua bảo chết phải chết, không chết là bất trung (quân sử thần tử, thần bất tử bất trung); những hình phạt như xẻo thịt (lăng trì), tứ mã phanh thây, voi giày, vứt vào vạc dầu sôi, tru di tam tộc… dành cho tội khi quân hay nổi loạn chống vua! Những bậc quân tử, tức những người theo Nho học đỗ đạt ra làm quan là cha mẹ, dân là con cái (dân chi phụ mẫu). Họ thuộc giai cấp sĩ, giai cấp cao quý nhất, dân chúng còn lại tất cả đều là tiểu nhân. Theo lệnh Thiên tử, họ thống trị 3 giai cấp dưới trong xã hội Trung Hoa là nông, công, thương. Người dân, dưới mắt Khổng Tử là đám ti tiện, khó dạy, trộm cướp, bất nhân. Người quân tử không muốn ở chung với bọn chuyên làm tội ác đó. Khổng Tử ví người quân tử như gió, gió thổi tới đâu cỏ rạp tới đó (người quân tử như gió, kẻ tiểu nhân như cỏ). Người quân tử, theo Nho học, phải tu thân để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, nghĩa là làm một kẻ thống trị. Trong gia đình thì thống trị vợ con, trong quốc gia thì thống trị dân chúng, trên thế giới thì thống trị những dân tộc khác. Nên chúng ta không lạ gì nước Tàu không mấy khi được thống nhất dù là theo thuyết tôn quân vì đầu óc phong kiến nên người nào cũng muốn tề gia, trị quốc cả. Khi được thống nhất thì phần lớn lại do các bạo chúa như Tần Thủy Hoàng hay Mao Trạch Đông thực hiện bằng những biện pháp tàn ác, sắt máu. Đối với những nước khác, khi nước Tàu đã trở nên cường thịnh thì đem quân đi xâm lăng, đó là chủ thuyết “bình thiên hạ” của Khổng Tử.
Một hạng người nữa bị nhà nho miệt thị là phụ nữ. Phụ nữ bị xếp ngang hàng với bọn tiểu nhân: “Chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là khó dạy. Gần thì họ nhờn, xa thì họ oán. Luận Ngữ, Dương Hóa” (Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, trang 483). Các triều đại vua chúa thời Nho giáo coi người phụ nữ không có tư cách pháp nhân, họ bị giám sát chặt chẽ như một đứa trẻ con: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà phục tùng cha, lấy chồng phục tùng chồng, chồng chết phục tùng con trai). Họ không có quyền về tài sản, tất cả tài sản họ kiếm được và con cái do họ sanh ra đều thuộc quyền người chồng. Kể cả bản thân họ người chồng có thể cho, bán, sang nhượng cho người khác khi cần. Chúng ta đang nói về tương quan giữa người chồng và người vợ Trung Hoa, riêng những người đàn bà bị mua về làm nàng hầu, thê thiếp thì bị xếp vào hàng súc vật.
Câu nói nổi tiếng nhất của Khổng Tử khi nói về phụ nữ: “Nữ nhân nan hóa” (đàn bà khó dạy). Văn hào Trung Hoa, Lỗ Tấn hỏi lại rằng Khổng Tử có nói câu đó với mẹ ông không? Theo Khổng Tử, phụ nữ chỉ là hạng người phục vụ cho đàn ông với tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh), phải lo trau chuốt để làm vừa lòng chồng. (Đàn bà ở nông thôn, những người nghèo khó (chiếm tới 98%, 99% phụ nữ Trung Hoa) đầu tắt mặt tối chưa đủ ăn lấy tiền đâu mua son phấn? Thì giờ đâu mà thêu thùa? Nên những lời dạy này của Khổng Tử chỉ áp dụng cho một số nhỏ phụ nữ thuộc giới vua chúa, quan quyền thôi). Cao điểm của học thuyết này là người đàn bà bị bó chân từ lúc 6,7 tuổi để hiến thân cho vua, chúa và những kẻ quyền thế khi đã khôn lớn! Nhân, Nghĩa, Đạo Đức… chỉ là chiêu bài cho một chủ thuyết bất nhân, chuyên thống trị con người.
Nhà văn Trung Hoa Cao Hành Kiện, đoạt giải Nobel văn chương năm 2.000, nhận xét: “Khổng giáo phát triển qua các triều đại, xây dựng lên hệ thống đạo đức trong xã hội phong kiến Trung Quốc. Thế nên Khổng giáo là để phục vụ cho quyền lực, nó là một hệ thống được tận dụng để hậu thuẫn cho quyền lực. Nếu chúng ta vứt bỏ quyền lực này đi, Khổng giáo chẳng còn gì ngoài lý thuyết.” (Web site BBC ngày 8 tháng 1 năm 2010).
Nhận xét trên tưởng còn nhẹ.
Trong truyện ngắn Nhật ký người điên, văn hào Lỗ Tấn gọi nhà Nho là lũ ăn thịt người. Ông viết: “Ta mở sử ra tra – pho sử này không ghi năm tháng, trang nào cũng thấy vẹo vẹo, xiêu xiêu mấy chữ: nhân, nghĩa, đạo, đức. Ta không sao ngủ được, tỉ mỉ đọc đến nửa đêm, mới nhận thấy giữa các khe chữ, nhan nhản toàn thị hai chữ “ăn người”, và: “Đã có thể đổi con mà ăn được, thì gì cũng đổi được hết. Trước kia ta chỉ nghe ngài giảng đạo lý, thì ta cũng à uôm, ỡm ờ bỏ qua; bây giờ mới biết, ra lúc ngài giảng giải, chẳng những mép ngài nhờn mỡ người, mà lòng ngài cũng đầy ý muốn xơi người”! (Lỗ Tấn, Tuyển tập, Giản Chi dịch, Nhà xuất bản Tổng Hợp Hậu Giang 1987, trang 17, 18).
Tóm lại, mục đích chính của đạo Khổng là tạo ra một tầng lớp cai trị với đầu óc tự tôn, đặc quyền, đặc lợi và tạo ra mặc cảm thấp hèn cho những kẻ bị trị để làm tê liệt đầu óc chống đối của họ.

II – Trung Quốc ngày nay: Mao Trạch Đông (1883 – 1976)

Người dân Trung Hoa bị phong kiến gồm vua chúa kết hợp với giai tầng quan quyền của đạo Khổng trấn áp, thống trị về thể chất bằng quyền lực – chém giết tù tội, và về tinh thần bằng cách dùng Nho giáo để mê hoặc, ru ngủ trong khoảng hơn 2.000 năm. Bị thống trị như vậy, để sống còn người dân chỉ có cách vâng phục và tìm cách lo lót cho những người có quyền thế nên kẻ giàu càng ngày càng giàu thêm, kẻ nghèo càng ngày càng nghèo đi. Ở nông thôn, ngoài sự tuân phục, phục dịch quan quyền còn bị những kẻ có quyền thế ở địa phương bóc lột, chèn ép. Quan tha ma bắt, ruộng đất dần dần thu gom vào một số người giàu có hay thần thế. Những nông dân nghèo có vài ba sào ruộng bình thường đã không đủ ăn, khi ốm đau, bệnh tật, tang ma đành đem bán hoặc cấm cố cho nhà giàu. Tay không, vào ngày mùa đi làm thuê kiếm miếng ăn nhưng khi mùa màng hết, công việc không có, nhiều người xin đi làm cả ngày chỉ được trả công bằng một bữa ăn trưa!
Đó là thực trạng xã hội Trung Hoa thời tiền Cộng sản vào đầu thế kỷ 20. Sự chênh lệch giàu – nghèo và tệ nạn tham ô, hối lộ... làm thối rữa xã hội Trung Hoa, tạo môi trường rất thích hợp để chủ nghĩa Cộng sản nảy nở, lớn mạnh thay vì phát triển ở những xứ công nghệ Âu, Mỹ như Marx tiên đoán và hy vọng.
Mao Trạch Đông, con một nông dân làm nghề buôn heo, sinh ngày 26-12-1883 tại thôn Thiều Sơn, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam, nắm lấy cơ hội, đã cùng các đồng chí tuyên truyền chủ nghĩa Marx với những hứa hẹn lật đổ chế độ phong kiến áp bức bóc lột, diệt trừ cường hào ác bá ở nông thôn, tịch thu ruộng đất của địa chủ để chia cho nông dân, mọi người đều tự do, bình đẳng, bình quyền, giải phóng phụ nữ, nam - nữ bình quyền.... Chủ nghĩa Marx (sau này cải biến thành chủ nghĩa Mao tàn khốc hơn nhiều) như nguồn nước cứu tinh đổ vào cái xã hội đang khao khát tự do, khao khát có miếng ruộng cày vì bị bóc lột, đàn áp, miệt thị và nghèo đói triền miên. Nông dân Trung Hoa vào những năm 1920 chiếm đến 98, 99% và hầu hết ở nông thôn đã nhanh chóng ùa theo Cộng sản nên chỉ mấy năm sau khi Đảng Cộng sản được thành lập (1921), Mao phát động chiến tranh du kích, lấy nông thôn bao vây thành thị.
Sau hơn 20 năm lao vào máu lửa, năm 1949 Mao thắng Tưởng Giới Thạch làm chủ hoàn toàn Lục Địa, đồng thời cũng là một đại đế mới hoàn toàn thống trị Trung Hoa. Có thể nói kể từ ngày lập quốc chưa có một ông vua nào có quyền hành tuyệt đối như Mao. Thời nhà Chu thì chia quyền cho các chư hầu, sau khi nhà Tần thâu về một mối thì quyền của ông vua cũng chỉ đến phủ, huyện vì dưới phủ, huyện thì các viên chức xã ấp hầu như được địa phương chọn lựa để tự lo liệu, điều hành công việc địa phương. Khi Mao lên làm chủ thì mọi chức vụ từ lớn đến nhỏ, dù ở thôn xã, cũng làm theo mệnh lệnh của Đảng, do Đảng đề cử và phải tuyệt đối phục vụ Đảng. Từ nhà máy đến cái khung dệt vải, cái đục, cái tràng đều tập trung trong tay Đảng; ruộng đất, nương rẫy, ao hồ do Đảng quản lý; buôn gánh bán bưng bị dẹp, thương mại là độc quyền của các cửa hàng quốc doanh... Người dân với hai bàn tay trắng hoàn toàn lệ thuộc vào Đảng và Đảng sai đi cày, đi cuốc rồi ban đấu ngô, đấu gạo, manh quần, manh áo mới sống còn được.
Một vị hoàng đế của các hoàng đế, đấng cứu tinh của giai cấp bần cố nông và thợ thuyền. Cán bộ Đảng là những người ưu tú, sớm giác ngộ chủ nghĩa Cộng sản, thay thế các bậc quân tử của Nho giáo theo lệnh Đảng cai trị dân! Cả một guồng máy tuyên truyền vĩ đại tôn Mao lên hàng thần thánh, đạo đức cao cả, thánh thiện, trong sạch, chí công vô tư, quên mình, xả thân phục vụ giai cấp vô sản và đất nước. Trẻ con từ 4, 5 tuổi đã được tuyên truyền, nhồi sọ về công ơn cao cả, đời sống đạo đức và sự hy sinh không bờ bến của Mao, đồng thời được dạy căm thù địa chủ, cường hào, đế quốc, tư bản....
Chủ nghĩa Mao – cải biến từ chủ nghĩa Marx – là chủ nghĩa phải đem dạy từ mẫu giáo cho đến đại học! Mao tuyển là sách gối đầu giường bắt buộc của toàn Trung Hoa. Mỗi nhà phải treo hình Mao; mọi người, mỗi buổi sáng khi đi làm ra trước ảnh Mao cúi đầu lạy, chiều về tới trước ảnh Mao cúi đầu lạy và đọc lời ăn năn sám hối những lỗi lầm trong ngày!
Mao ngự trị trong khu hoàng thành cũ ở Bắc Kinh, ba vòng đai an ninh ngày đêm canh gác và điều khiển quốc gia từ trong phòng ngủ. Trong cuốn Tư nhân bác sĩ hồi lục ký nói gọn là hồi ký, bác sĩ riêng của Mao là Lý Chí Thỏa kể lại rằng những lãnh tụ Trung Hoa như Mao Trạch Đông và Lâm Bưu là những người mắc bệnh thần kinh. Mao không bao giờ tắm, chỉ lau người và luôn luôn uống thuốc ngủ với liều lượng cao nhất, còn Lâm Bưu thì ghiền thuốc phiện nặng đến nỗi phải gửi sang Nga Xô cai nghiện. Lâm sợ gió, sợ ánh sáng và sợ nước. Cũng theo BS Lý Chí Thỏa, người luôn ở bên cạnh Mao cho đến lúc Mao chết, thì Mao là một kẻ vô luân và hoang dâm vô độ! Cùng một lúc ăn ở với hai mẹ con người phục vụ và làm tình với cả những thanh niên đẹp trai hầu cận! Mao đi đâu cũng có một đoàn các cháu gái trẻ, đẹp theo sau. Trên xe lửa có đoàn ca vũ của xe lửa theo hầu. Đến các tỉnh, các thành phố thì bí thư đảng ủy địa phương lo công việc đó. Ở Bắc Kinh, phòng ngủ của Mao là Liên Xuân Phòng và phòng 118 được bố trí sát phòng khiêu vũ để sau khi ăn uống no say là dạ vũ với các nữ vũ công, ca sĩ 18, 20 xinh đẹp được giữ lại tại phòng ngủ của Mao suốt đêm (Giang Thanh, người vợ thứ 3 sống riêng biệt ở nơi khác).
Trong khi bên ngoài nhân dân chết đói hàng chục triệu người do sai lầm trong Hợp tác hóa, Đại nhảy vọt hay bị hành hạ, chém giết bởi Vệ Binh Đỏ thì tại Đại sảnh đường Nhân dân, Mao và các lãnh tụ cao cấp của Đảng vui chơi, tiệc tùng, khiêu vũ thâu đêm!
Cựu Đại tá Tân Tử Lăng, với cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội, mô tả Mao như một thứ ma đầu, thủ đoạn, nham hiểm, độc đoán, tàn bạo. Khi cần lôi cuốn người dân nghèo, Đảng Cộng sản và Mao tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân nhưng khi đã hoàn toàn nắm chặt quyền trong tay, Mao và Đảng Cộng sản bắt mọi người đem ruộng đất vào hợp tác xã, người dân lại hai bàn tay trắng đi làm công cho ông chủ mới duy nhất dưới sự phân công, giám sát, theo dõi từng cử chỉ, lời nói của các đảng viên Cộng sản. Sự áp bức, bóc lột và nạn tham nhũng lại diễn ra còn gay gắt hơn dưới chế độ phong kiến mà người dân phải cam chịu vì bây giờ chỉ có mỗi một ông chủ, không như ngày xưa không thích chủ này thì làm mướn cho chủ khác.
Nông dân, thợ thuyền bất mãn phản ứng tiêu cực, không tận tâm làm việc nên kinh tế bị suy bại. Cựu Đại tá Tân tử Lăng viết: “Chỉ thấy cảnh nghèo nàn, bệnh phù thũng và đầy rẫy người chết đói”! Tại hội nghị Lư Sơn năm 1959, Nguyên soái Bành Đức Hoài, Bộ trưởng Quốc phòng, thẳng thắn phê bình và cãi nhau tay đôi với Mao về thực trạng của kế hoạch hợp tác hóa nên bị cách chức. Tướng Hoàng Khắc Thành, Tổng tham mưu trưởng cùng chung số phận.
Trước hoàn cảnh thê thảm đó, thay vì phải đình chỉ để sửa chữa hay hủy bỏ kế hoạch, Mao với quyền hành tuyệt đối của lãnh tụ Đảng ra lệnh thực hiện Đại nhảy vọt và thành lập Công xã Nhân dân trên toàn quốc vào tháng 9-1959 với tham vọng Trung Quốc vượt nước Anh về sản lượng thép trong 15 năm, đốt giai đoạn vượt Nga Xô để từ một xã hội nông nghiệp thô sơ tiến thẳng lên xã hội cộng sản, không cần qua giai đoạn tư bản. Mao ra lệnh cho nông dân trồng lúa, bắp, kê... dày ken nhau để nâng cao năng suất, nhà nhà lập lò luyện thép sau hè, chỉ tính riêng tỉnh Hồ Nam có tới 50.000 lò luyện thép! Thép từ những lò luyện do các nông dân phụ trách chảy ra là một đống sắt nhão tạp vô dụng; lúa, bắp trồng dày quá không đủ không khí nên nông dân phải thay phiên nhau ra đồng ngày đêm quạt thông gió mới không bị chết, nhưng ra hạt là những hạt lép!
Mùa xuân năm 1960 nạn đói lan tràn, có làng 80 ngày không có miếng ăn, huyện Tín Dương, Hà Nam hơn 1 triệu dân chết đói! Từ 1959 đến 1962 số dân chết đói toàn quốc là 5,11% của khoảng 600 triệu dân. Tỉnh An Huy nặng nhất: 18,37%, Tứ Xuyên: 13,07%, Hồ Nam quê hương Mao: 6,81%.... Trong Đại nhảy vọt này có 37,5 triệu người chết đói! Ở tỉnh Tứ Xuyên ban ngày chôn người chết, tối đào lên xẻo thịt nấu ăn, ở huyện Sùng Khánh người ta còn giết cả trẻ con lấy thịt ăn! Đội sản xuất số 1 huyện Sùng Khánh có 83% hộ ăn thịt người!
Khi nhận được báo cáo, Mao đổ lỗi cho bọn địa chủ, phú nông lọt lưới, bọn hữu khuynh trong Đảng phá hoại và nham hiểm lên kế hoạch loại trừ mọi nguy cơ chống đối. Mao bí mật giao cho Giang Thanh thi hành âm mưu. Những kẻ có nguy cơ tiêu diệt Mao là những đồng chí cũ đang được Mao cho chia sẻ quyền hành trong Bộ Chính trị, trong Chính phủ, các tướng lãnh, các ủy viên Trung ương Đảng đang nắm quyền hành tại các tỉnh và những người dân trưởng thành trước khi Mao cầm quyền có thể so sánh chế độ trước và chế độ của Mao, nhất là những thành phần có học, con cái địa chủ và trung nông thoát khỏi đợt tàn sát hồi cải cách ruộng đất có thể phụ họa chống đối.
Những thành phần đáng tin cậy của Mao là thanh, thiếu niên từ 13, 14 tuổi trở lên hoàn toàn được giáo dục, nhồi nhét lòng hận thù địa chủ, phản động, hữu khuynh... cũng như nhồi nhét rằng Mao là lãnh tụ vĩ đại, đấng cứu tinh của giai cấp, của nhân dân, được sử dụng làm nòng cốt trong chiến dịch này.
Ngày 02-8-1966 Mao đích thân ra lệnh cho hơn 1 triệu Vệ binh đỏ tụ tâp ở Bắc Kinh tấn cống các trụ sở, trường học, bệnh viện, chùa chiền. Tượng Phật, lăng mộ của Khổng Tử, Khổng Minh, Hạng Võ, Viêm Đế, Thành Cát Tư Hãn... bị đập phá. Từ 18/8 đến 26/11/1966 có 13 triệu Vệ binh đỏ từ các nơi kéo về Bắc Kinh biểu dương lực lượng ủng hộ Mao. Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước, Đặng Tiểu Bình, Tổng Bí thư Đảng và hai bà vợ của hai người này bị Vệ binh đỏ lôi ra đấu tố, đánh đập trước công chúng. Riêng Lưu Thiếu Kỳ bị đánh đập dã man chỉ còn 7 cái răng và bị nhốt trong Phủ Chủ tịch, bị đày đọa cho đến chết. Các Nguyên soái Bành Đức Hoài, Chu Đức, Hạ Long... chịu cùng tình cảnh tương tự. Riêng trong hạ tuần tháng 8-1966 tại Bắc Kinh có hàng ngàn người bị lôi ra đập chết tươi. Vệ binh đỏ tung hoành khắp nước, hạ bệ, đánh đập, giết chóc bí thư, chủ tịch ở các tỉnh địa phương mà hầu hết họ là những người đã từng vào sinh ra tử với Mao trong cuộc nội chiến chống Tưởng Giới Thạch để chiếm quyền. Những viên chức bị tố cáo là hữu khuynh, những phú nông, địa chủ và con cái địa chủ thoát chết trong cải cách ruộng đất bị hành quyết hay đập chết cả nhà. Tất cả những kẻ đó đều là kẻ thù của Mao Chủ tịch!
Máu lửa và cuồng loạn tràn ngập Trung Quốc. Hàng chục triệu người bị tàn sát hay bị hành hạ, hơn 10 triệu nhà bị lục soát! Chỉ riêng huyện Đạo tỉnh Hồ Nam trong 66 ngày (13/8 đến 17/10/1966) có 4.519 nạn nhân của Vệ binh đỏ gồm 4.193 người bị giết và 326 người bị buộc phải tự sát! Dân chúng hoảng loạn, nhiều nơi ăn thịt những người bị Vệ binh đỏ giết chết để chứng tỏ lòng trung thành với Mao. Ở tỉnh Vân Nam mỗi khi “ kẻ thù của Mao Chủ tịch” bị đập chết, người ta đem dao moi gan, xẻo thịt về nấu ăn.
Dưới quyền ngự trị của Mao, dân tộc Trung Hoa hai lần phải ăn thịt người!
Thần, Phật, tổ tiên đã bị đạp đổ hết, bây giờ Mao ngự trị Trung Quốc như một vị thượng đế nhưng thân phận người dân Trung Quốc thì không có gì thay đổi, càng ngày càng tiến đến cảnh tận cùng của nghèo khổ, đói rách cho đến khi Mao xuôi tay, nhắm mắt!
Sau này hồi tưởng lại, cựu Vệ binh đỏ Trần Hướng Dương viết: “Vì từ nhỏ đã được giáo dục hận thù: thù địa chủ, tư bản, Quốc Dân Đảng. Sự cuồng loạn ấy chẳng những hiện nay không mấy ai tin mà ngay bản thân chúng tôi nhớ lại cũng không dám tin nữa. Những việc làm xấu xa của Hồng Vệ Binh thật đáng nguyền rủa. Nhưng chúng tôi cũng có đủ tư cách để lớn tiếng hỏi lại: Ai đã giáo dục chúng tôi thành những thằng điên?” (Tân Tử Lăng, Mao Trạch Đông ngàn năm công tội).
Với những lời ghi trên, thiết nghĩ phải đưa những kẻ đầu độc trí óc dân chúng ra xét xử trước Tòa án Quốc tế về tội ác chống nhân loại.

III - Trung Quốc đi về đâu?

Như phần trên chúng tôi đã nói truyền thống Trung Quốc là đầu óc phong kiến, thống trị! Những kẻ độc tài đeo mặt nạ dân chủ như Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch, Lý Quang Diệu... cũng như bất cứ những kẻ độc tài nào từ xưa tới nay, họ không bao giờ quên củng cố quyền lực và bằng mọi cách bảo vệ quyền lợi bản thân, gia đình, phe, đảng.
Sau cái chết của Mao là cuộc đấu tranh quyền lực giữa hai phe: phe Đặng Tiểu Bình, Lý Tiên Niệm, Hoa Quốc Phong... và bọn “Bọn bốn tên” (Tứ nhân bang”) do Giang Thanh, vợ thứ ba của Mao, cầm đầu. Khi “Bọn bốn tên” bị diệt thì Đặng Tiểu Bình trở thành lãnh tụ tối cao với chủ trương thực tiễn “mèo trắng, mèo đen mèo nào bắt chuột hay cũng tốt” để cứu Đảng Cộng sản và xã hội Trung Quốc đang bên bờ vực thẳm.
Đó là tính thế bắt buộc, không còn con đường nào khác vì Đặng đã từng nói trong dịp đi tuần thú phương nam (Nam tuần giảng thoại) năm 1992: “Không cải cách Trung Quốc chỉ có nước chết mà thôi.”!
Sau khi thanh toán xong bọn “Bọn bốn tên”, năm 1979 Đặng Tiểu Bình tung ra kế hoạch “Bốn hiện đại hóa” với chủ thuyết “Chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Trung Quốc”, có nghĩa là Đảng Cộng sản tiếp tục cầm quyền, chỉ thay đổi kinh tế, còn quyền hành và chủ quyền quốc gia cũng như quyền sống người dân vẫn nằm trong tay Đảng Cộng sản. Cuộc đổi mới này thực chất là chủ thuyết của Marx về kinh tế được thay thế bằng chủ nghĩa Tư bản phương Tây. Mấy tiếng “Chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Trung Quốc” dùng để lừa bịp dân chúng, đồng thời giúp cho những người Cộng sản khỏi ngượng mặt khi vẫn nắm chặt quyền hành.
Cánh cửa đóng kín trước đây giờ được mở ra để mời gọi tư bản khắp bốn phương tới đầu tư với tất cả mọi ưu đãi và dễ dãi!
Tư bản từ châu Âu, châu Mỹ, châu Úc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore... đổ vào khai thác công nhân rẻ mạt và một thị trường tiêu thụ khổng lồ 1,3 tỷ người. Hàng trăm, rồi hàng ngàn tỷ Mỹ kim từ nước ngoài đổ vào mỗi năm thông qua giấy phép và sự sắp xếp, thỏa hiệp với những người Cộng sản cầm quyền.
Từ năm 1979 đến nay, hơn 30 năm, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành cường quốc thứ hai về kinh tế năm 2010, đứng sau Hoa Kỳ. Tuy nhiên chính quyền hiện nay giữ nguyên chế độ độc tài đảng trị mang truyền thống phong kiến đã không theo kịp với những thay đổi kinh tế và xã hội.
Vì vậy, hiện nay Đảng Cộng sản Trung Quốc đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn:
- Xã hội tan rã vì không có đạo đức: Đạo đức là căn bản của con người và xã hội. Đạo đức giữ cho con người không tàn ác, giết người, tham lam, lường gạt, thù hằn, hoang dâm, lười biếng...; đạo đức dạy con người sống ngay thẳng, thực thà, thương yêu, tha thứ, đoàn kết, giúp đỡ, che chở lẫn nhau.... Đó là chất keo gắn kết nền tảng của xã hội. Không có đạo đức thì những người có quyền thế sẽ trở nên tham lam, tàn ác, lạm quyền, tìm mọi cách bóc lột người dân để thỏa lòng dục; dân chúng thì chỉ biết nghĩ đến cái lợi cho bản thân, gia đình, gian dối, lừa gạt, trộm cướp, thù hằn, tranh giành đâm chém nhau.
Chủ nghĩa Cộng sản không xây dựng xã hội đặt nên tảng trên đạo đức, trái lại chủ trương dùng căm thù để đấu tranh: con thù cha, vợ thù chồng, anh em thù nhau, xóm làng đấu tố, đánh đập, giết hại nhau (rõ nhất trong đấu tố cải cách ruộng đất). Chính quyền không cai trị dân bằng chính đạo mà bằng tà đạo: thủ đoạn, dối trá, tàn bạo. Từ những lãnh tụ lớn như Staline, Mao Trạch Đông giết hàng chục triệu người (Staline: 21,5 triệu, Mao: 78 triệu) đến các lãnh tụ nho nhỏ như Pol Pot, Ieng Sary, Khiêu Samphan cũng giết tới hai triệu trong số bảy triệu dân Khmer chỉ trong vài năm cầm quyền. Ở Nga cũng như ở Trung Quốc, cả một bộ máy tuyên truyền vĩ đại tung hô những kẻ sát nhân và hoang dâm, vô luân như Mao, Staline là thần thánh để lường gạt dân chúng. Nếu vẫn còn chế độ Khmer đỏ ở Campuchia không bị sụp đổ thì Pol Pot, Khiêu Samphan, Iang Sary... cũng sẽ được bộ máy tuyên truyền tôn là thần thánh và có cả lăng tẩm như Staline, Mao Trạch Đông sau khi chết.
Thiết chế Mao ngự trị của cho đến bây giờ kéo dài đã hơn 60 năm, con người và xã hội Trung Quốc bị phá sản về đạo đức.
Mới đây cả thế giới xúc động khi hay tin bé Vương Duyệt Duyệt, hai tuổi, đang thơ thẩn chơi trong khu chợ ở Quảng Đông bị một chiếc xe tải cán qua người bỏ đi, chiếc xe thứ hai thản nhiên cán tiếp và rồi người thứ nhất, người thứ hai... cho đến người thứ 18 vẫn thản nhiên bước qua không ai ngừng lại giúp đỡ em. Kết quả là dù sau đó được chở tới bệnh viện nhưng không cứu em sống được vì đã quá trễ.
Để kiếm nhiều lời, xí nghiệp của nhà nước cũng như tư nhân bỏ cả chất độc vào thực phẩm đem bán cho người tiêu dùng. Tập đoàn sản xuất sữa Mông Ngưu của nhà nước năm 2008 bỏ mélanie vào sửa làm trẻ con uống chết 6 và bị bệnh thận lên tới 300 ngàn em, mới đây lại phát hiện trong sữa, trong dầu ăn có chất Aflatoxine là chất độc gây ung thư gan. Ngoài ra còn có dầu ăn tái chế hứng từ miệng cống các nhà hàng, nấm gây ung thư, thịt heo gây ung thư, đậu hũ giả, rượu giả.... Đầy dẫy những kẻ cầm quyền tham lam, tàn ác đã cướp đất của dân còn đánh đập, cho xe ủi đất cán chết khi người ta chống đối!
Quyền hành tập trung, của cải tập trung đưa đến cảnh kẻ no, người đói; kẻ đầy quyền hành, kẻ khốn khổ vì bị áp bức thì xã hội không ổn định được!
- Nạn con ông cháu cha: Hai vụ đụng xe của con hai ông Tướng cả nước Trung Hoa và thế giới đều biết. Lý Khải Minh 22 tuổi, say rượu lái xe đâm chết sinh viên Trần Hiến Phượng bị những người đi đường xúm lại bắt giữ đã thách thức: “Có giỏi cứ đi kiện đi, cha tao là Lý Cường đấy.” (Lý Cường là tướng Công an). Ít tháng sau, ngày 06-9-2011, Lý Thiên Dực 15 tuổi, không bằng lái, con trai Thiếu tướng Lý Song Giang lái chiếc xe hơi sang trọng của Đức BMW đụng một cặp nam nữ. Khi mọi người nói kêu cảnh sát, Lý Thiên Dực nhảy xuống tay đánh, miệng chửi: “Ai bảo chúng mày dám gọi cảnh sát?”.
Cái nạn con các ông lớn hoành hành như thế chỉ làm người ta tức giận nhưng nguyên nhân chính làm phân hóa xã hội Trung Hoa là con cái các ông lớn thì lại làm ông lớn, theo “truyền thống” “con vua thì lại làm vua”. Tập Cận Bình đang sửa soạn thay Hồ Cẩm Đào trong năm nay là con của Tập Cận Huân, nguyên Phó Thủ tướng và Phó Chủ tịch nước; Bạc Hy Lai từng là Bộ trưởng Thương mại, hiện là Bí thư thành phố Trùng Khánh, Ủy viên Bộ Chính trị, đang vận động vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị trong năm nay; Mao Tân Dư, cháu nội Mao Trạch Đông mới 40 tuổi đã được thăng cấp tướng... Cái lối cha truyền con nối đó được áp dụng trong các ngành, mọi cấp từ trung ương tới địa phương.
Theo sau chữ quyền chữ lợi, con cái những ông lớn còn dựa vào thế lực gia đình để làm giàu. Những người này được dân chúng Trung Hoa gọi là “phú nhị đại”, tức thế hệ thứ hai giàu có. Theo số liệu tại Trung Quốc thì 90% tỷ phú Mỹ kim là con cái giới lãnh đạo, họ được giữ những chức vụ quan trọng trong các công ty quốc doanh bổng lộc nhiều, được đặc quyền đặc lợi đầu tư, đấu thầu ở những ngành địa ốc, ngân hàng, xây dựng....
- Nạn cường hào: Hai chữ “cường hào” được người Cộng sản Trung Quốc triệt để khai thác để tuyên truyền lôi kéo nông dân chống lại những người giàu có, quyền thế đè nén dân chúng ở nông thôn thời trước. Nhưng hiện nay nạn cường hào ác bá xảy ra cả ở nông thôn lẫn thành thị làm người dân khốn đốn khi họ bị cướp nhà, cướp đất! Từ khi có “bốn hiện đại hóa”, đất đai trở nên đắt giá vì cần phải mở mang đô thị, lập các khu công nghiệp, các khu thương mại, các khu giải trí.... Đây là cơ hội để những kẻ có quyền hành tìm cách cướp đoạt đất của người dân.
Thông tấn xã AFP ngày 20-1-2010 đưa tin ông Zhang Weixing thuộc xã Xiashuixi tố cáo viên Chủ tịch xã tên Lishining chiếm 3,3 mẫu đất của ông ta để xây nhà trên đó. Khi bị phản kháng viên chức này thuê côn đồ đánh ông ta. Còn dân trong xã than rằng Lishning làm họ khốn khổ vì bị y chiếm đất, tống tiền và bắt nạt. Cách nay hơn 1 tháng (tháng 12-2011), 13.000 ngàn dân làng Ô Khảm thuộc thành phố Lục Phong, Quảng Đông, biểu tình đòi “nợ máu” vì bọn cường hào ở địa phương giết chết ông Tiết Kim Ba. Nạn nhân bị lột da ngực, đập dập các đầu ngón tay vì đã dám đứng lên chống lại việc chính quyền địa phương trưng thu đất để bán cho các công ty địa ốc. Dân làng Ô Khảm tố cáo họ chỉ được bồi thường với số tiền rẻ mạt là 5% so với giá thị trường. Mới đây, ngày 20-01-2012 dân làng Hoàng Cương gần đó cũng kéo nhau lên thành phố Quảng Châu biểu tình tố cáo Bí thư đảng Cộng sản xã nhận 63 triệu Mỹ kim đút lót để lấy đất của dân bán cho công ty địa ốc. Còn biết bao nhiêu người bị bọn cường hào ác bá hãm hại như ở Hà Nam ngày 03-01-2011 một phụ nữ có hai con nhỏ bị xe ủi đất đè chết và trước đó một tuần một thôn trưởng bị công an căng ra cho xe tải chạy qua cán chết, ba anh em nhà họ Bạch ở Vĩnh Niên, tỉnh Hà Bắc cùng tự thiêu ngày 03-11-2011 khi chính quyền tỉnh đem xe ủi đất và 300 côn đồ cộng với công an tới đánh đập dân làng để giải tỏa 400 mẫu đất.
Đây chỉ là một vài vụ tiêu biểu mà báo chí được biết. Có cả hàng trăm ngàn vụ, hàng trăm ngàn nạn nhân tức tưởi trong oan khuất không được ai biết đến từ bao nhiêu năm nay! Một cuộc điều tra của Đại học Nhân dân Bắc Kinh công bố trên báo 21st Century Business Herald xuất bản tại Bắc Kinh ngày 07-02-2012 đưa ra số liệu như sau:
- Từ năm 1990 đến nay có 584 triệu người dân Trung Hoa bị cướp đất, tương đương 43% dân số. - Hơn 130 triệu 612 người không được bồi thường hay bị chính quyền địa phương quỵt tiền bồi thường.
- Giá bồi thường rẻ mạt: Một mẫu Trung Hoa (667m2) bồi thường khoảng 3.000 đô la (18.739 nguyên) xong bán cho các công ty kinh doanh 123.000 đô la (778.000 nguyên) cao gấp hơn 40 lần. Tình trạng nông dân như vậy, số phận của công nhân cũng chẳng khá hơn.
- Nạn bóc lột công nhân: Tư bản ngoại quốc được chính quyền liên kết để cùng bóc lột công nhân. Người lao động phải làm việc trong những điều kiện khắc nghiệt nhiều khi 14, 15 giờ một ngày, không có ngày nghỉ cuối tuần; nghỉ bệnh, nghỉ sanh là bị sa thải. Năm 2010, đại công ty FoxConn của Đài Loan chuyên lắp ráp đồ điện tử cho các công ty Nhật, Mỹ về computer lập nhiều nhà máy ở Thành Đô và Thẩm Quyến với hơn một triệu công nhân bị nhốt trong doanh trại như các trại lính, ăn ở tại chỗ, mua sắm tại chỗ.... Họ bị làm việc căng thẳng có khi 7 ngày/tuần, bị các xếp chửi mắng, hạch xách, đe dọa trừng phạt, sa thải nên hàng loạt công nhân ở tuổi 20, 21 tự tử. Tình trạng này kéo dài làm chấn động thế giới với lòng thương cảm và phẫn nộ! Tuần báo New York Times số cuối tháng 01/2012 còn nhắc lại tình trạng khắc nghiệt này: “Môi trường làm việc tệ hại và những vấn đề nghiêm trọng về mặt an toàn, có nguy cơ tử vong”.
Đầu tháng 3 năm 2011, Tổ chức Lao động và Nhân quyền Toàn cầu tố cáo tệ nạn này tại nhà máy Vũ Uy ở Đông Quan chuyên sản xuất phụ tùng plastic cho hãng xe Ford của Mỹ, bắt công nhân làm việc 14 giờ/ngày, 7 ngày 1 tuần với lương 80 cents/giờ. Ai bảo vệ, bênh vực họ khi cán bộ công đoàn là những đảng viên Cộng sản đã liên kết với người ngoại quốc để được chia chác tiền bạc.
- Ô nhiễm môi trường sống: Một số người nhận xét vì đặt nặng vấn đề tăng trưởng nên chính quyền Trung Quốc lơ là với nạn ô nhiễm, điều đó chỉ đúng vài phần trăm. Nguyên nhân chính là nạn tham nhũng, cứ có tiền là trót lọt; ngược lại dù có đạt tiêu chuẩn môi trường cũng chẳng có giấy phép. Thứ đến là trình độ thấp kém không phải chỉ ở cấp huyện, xã, tỉnh, thành phố mà cả ở ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, v.v. Vụ xây đập thủy điện trên sông Dương Tử là một bằng chứng. Đến nay thì những nguồn nước ở phía dưới đập bị cạn kiệt và con đập bị đe dọa bởi biết bao nhiêu cây cối, đá, sỏi, đất từ thượng nguồn đổ về lấp dần đi. Trên thế giới có 20 thành phố ô nhiễm nhất thì Trung Quốc chiếm 13 và thủ đô Bắc Kinh đứng đầu!
Nguy hiểm nhất là những nhà máy đổ chất thải chứa chất độc ra sông rạch mà không được khử trước, những nhà máy gây ra bụi và khói độc cho những vùng dân cư ở xung quanh. Theo phóng viên báo Le Figaro tại Bắc Kinh, mỗi năm có khoảng 50 ngàn vụ dân chúng phản đối ô nhiễm. Chỉ nói mới đây, ngày 14-8-2011, 20 ngàn dân cư thành phố Đại Liên ồ ạt biểu tình chống nhà máy hóa chất gây ô nhiễm; ngày 18-9-2011 hàng ngàn người dân thành phố Hải Ninh, Chiết Giang bắt đầu 3 ngày biểu tình và đập phá văn phòng, lật xe cộ của công ty sản xuất pin mặt trời Jinco Solar vì gây ô nhiễm làm cá nuôi trong khu vực bị chết và 31 người chết vì ung thư; vụ mới đây nhất là ngày 15-01-2012 người ta thấy cá chết nổi lềnh bềnh trên sông mới phát giác nước sông Liễu (Liễu Giang) bị nhiễm độc 20 tấn cadmium do một hầm mỏ thải ra làm 3 triệu 700 ngàn dân thành phố Liễu Châu không có nước uống. Đây chỉ là những vụ tiêu biểu từ trước tới nay trong cái thảm trạng này.
- Nạn tham nhũng: Độc tài và tham nhũng là hai con quỷ song sinh, hiếm khi đơn lẻ và thằng em cuối cùng làm hại thằng anh. Cách nay mấy tháng, Raul Castro lãnh tụ Đảng Cộng sản Cuba tuyên bố “Tham nhũng còn nguy hiểm hơn cả bọn phản động”. Ngày 30-01-2012, đại hội bất thường Đảng Cộng sản Cuba dưới sự lãnh đạo của ông đã đi đến một số quyết định quan trọng, trong đó có vấn đề chống tham nhũng. Ở Trung Quốc, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhiều lần kêu gọi khẩn thiết chống tham nhũng và mới đây, ngày 10-01-2012, cơ quan Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản xác định: “Công cuộc chống tham nhũng cần phải đạt thêm nhiều kết quả hơn trước” để lập thành tích cho Đại hội lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Nhưng càng chống thì càng tham! Từ một viên bí thư xã đến các bí thư tỉnh, huyện, Ủy viên Bộ Chính trị chóp bu chẳng nhiều thì ít tham nhũng. Tham nhũng không phải vài trăm, vài ngàn Mỹ kim mà hàng chục, hàng trăm triệu đô la! Hai ngày liên tiếp 20, 21 tháng 01/2012 hàng ngàn dân xã Hoàng Cương, Quảng Đông, biểu tình tố cáo viên bí thư xã nhận hối lộ 63 triệu đô la, tháng 3/2011 Bộ trưởng Giao thông bị điều tra vì tham nhũng 121 triệu đô la trong việc cấp giấy phép cho xe lửa cao tốc. Những Ủy viên Bộ Chính trị như Trần Hy Đồng (Bí thư Bắc Kinh), Trần Lương Vũ (Bí thư Thượng Hải) đều bị đưa ra tòa vì tham nhũng. Phó Chủ tịch tỉnh Sơn Đông Hoàng Thắng có tới 46 căn nhà cho 46 người tình. Không tham nhũng làm sao con cái của các tướng lãnh và cán bộ cao cấp lái xe Ferrari, Porche giá hàng trăm ngàn đô la và được gửi đi học ở nước ngoài?
Theo thống kê của cơ quan Kiểm toán Quốc gia Trung Quốc, năm 2009 có 106.000 viên chức bị kết tội tham ô liên quan đến 34,4 tỷ đô la bằng 1/3 Tổng sản lượng quốc nội/năm của Việt Nam. Theo điều tra của Cơ quan Tổng Thanh tra Đảng Cộng sản Trung Quốc công bố tháng 01-2011 thì tệ nạn này lan tràn trong tất cả bộ máy Đảng và nhà nước ở mọi ngành, mọi cấp (trường học, bệnh viện, cơ quan từ thiện Hồng Thập Tự, công an, quân đội, báo chí, xây dựng, nông nghiệp, lương thực, thuốc men...). Trong năm 2010, cơ quan này nhận được 1 triệu 400 ngàn đơn tố cáo và hồ sơ tham nhũng, có trên 500 ngàn cán bộ từ cấp huyện trở lên bị án tù, không thấy nói gì đến cấp xã là cấp chính quyền được trải rộng khắp nước và là nơi cường hào đỏ hoành hành nhiều nhất. Không biết số tiền các cán bộ tham ô là bao nhiêu trong năm 2010, nhưng theo báo cáo của cơ quan Thanh tra này công bố tháng 6/200 thì từ năm 1990 đến 2008 có 17.000 quan chức rời khỏi Trung Quốc đem theo 124 tỷ đô la, lớn hơn Tổng sản lượng quốc nội/năm của Việt Nam khoảng 24 tỷ. Số cán bộ tham nhũng và số tiền bất chính còn nằm trong nước chắc chắn phải cao hơn gấp nhiều lần.
Ngoài việc bóc lột dân, nội bộ Đảng Cộng sản cầm quyền bóc lột lẫn nhau cũng rất khốc liệt. Ở Suihua, một cán bộ trả 100 ngàn đô la cho ban tổ chức đảng để làm bí thư, một cán bộ khác trả 44 ngàn cho chức vụ nhỏ hơn nhưng hai năm sau kiếm được 740 ngàn. Trong quân đội, cột trụ của chế độ, nạn tham nhũng cũng không buông tha, chỉ cần khoảng 6.000 nhân dân tệ (# 1.000 đô la) có thể mua được cái lon trung sĩ. Theo Mc Gregor, tham nhũng của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một loại thuế lan tỏa giữa giai cấp lãnh đạo.
Trên đây là những nguyên nhân gây ra bất công xã hội do những kẻ cầm quyền lợi dụng quyền thế thâm lạm, đục khoét tài nguyên quốc gia và bóc lột dân chúng qua tham ô, hối lộ cũng như cướp đất, cướp nhà của dân để làm giàu và đẩy người dân đến chỗ nghèo khó.
- Hố ngăn cách giàu nghèo: Tuy Trung Quốc đã vượt Nhật vào giữa năm 2010 trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ hai thế giới nhưng theo Tiến sĩ Trình Hiểu Nông từng là cố vấn của cố Thủ tướng Triệu Tử Dương thì hiện nay “nhiều người Trung Quốc hiện không đủ tiền mua thịt cá mà tiền mua rau cũng không có. Nhiều người phải đợi chợ gần tan để mua rẻ một ít rau trái cho có cái ăn qua ngày!”. Trong khi đó thì có những người giàu có tiệc tùng với rượu champagne đổ ra thùng uống không hết. Hầu hết họ thuộc giới cầm quyền lợi dụng chức vụ mà giàu có, thứ đến là con cái, thân thuộc của họ và sau cùng là những người liên kết, cộng tác làm ăn với họ để cùng chia chác.
Theo số liệu được những nhà nghiên cứu về Trung Quốc sưu tầm và tiết lộ trong năm 2011 thì:
- 70% tổng sản lượng quốc gia (4.115,02 tỷ đô la) do 0,2% dân số (#2,5 triệu) nắm giữ; dân số còn lại là 99,8% chia nhau 30% (Báo cáo tháng 7/2011 của cơ quan tư vấn Boston Consulting Group).
- Tổng sản lượng quốc nội năm 2010 là 5.878,6 tỷ đô la, nhưng tài sản trong các tập đoàn quốc doanh do các Hoàng Tử Đỏ nắm giữ chiếm 61,7% = 3.627,09 tỷ đô la.
Do đó có khoảng 900 triệu người dân Trung Hoa sống trong nghèo khó với lợi tức 2 hay 3 đô la/ngày, có những người chỉ có 1 hay 2 đô la. Những người này sống đói khát như người dân Phi Châu miền nam sa mạc Sahara! (Nguyễn Xuân Nghĩa, RFI ngày 22-2-2011).
Trong hoàn cảnh xã hội như thế, những người có lương tri không thể không lên tiếng và dân chúng dù chết cũng phải nói lên nỗi bất mãn của họ.
P. H. S.